ĐỊA LÝ ĐẮK LẮK

Từ Bách khoa toàn thư Việt Nam

ĐỊA LÝ ĐẮK LẮK

Đắk Lắk, Darlac, Đăk Lăk hay Đắc Lắc (theo tiếng M'Nông dak Lak [daːk laːk] (phát âm gần giống như "đác lác") nghĩa là "hồ Lắk", với dak nghĩa là "nước" hay "hồ", đồng căn với Việt nước/nác, Khmer ទឹក tɨk) là tỉnh có diện tích lớn thứ 4 nằm ở trung tâm Tây Nguyên, Việt Nam.

Tỉnh lỵ của Đắk Lắk là thành phố Buôn Ma Thuột, nằm cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km. Ngày 26.11.2003, tách tỉnh Đăk Lăk thành hai tỉnh là Đăk Lăk và Đăk Nông. Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại được thế giới công nhận.

1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.1. Vị trí địa lý

Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Srêpôk và một phần của sông Ba, trong khoảng tọa độ địa lý từ 107o28’57”-108o59’37” kinh độ Đông và từ 12o9’45”-13o25’06” vĩ độ Bắc. Độ cao trung bình 400 - 800 m so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh núi Chư Yang Sin có độ cao 2442 m so với mực nước biển, đây cũng chính là đỉnh núi cao nhất ở Đắk Lắk.

         - Phía bắc giáp tỉnh Gia Lai;
         - Phía nam giáp tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông;
         - Phía đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa;
         - Phía tây giáp tỉnh Đăk Nông và Vương quốc Cam Pu Chia.

Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 1.312.537 ha với chiều dài đường địa giới hành chính khoảng 660 km, trong đó có 70 km chung với Cam Pu Chia.

1.1.2. Địa hình địa mạo

Đắk Lắk là tỉnh nằm ở phía tây Trường Sơn là vùng cao nguyên có độ cao trung bình 600 m, có hướng thấp dần từ đông nam sang tây bắc. Địa hình đa dạng đồi núi xen kẽ bình nguyên và thung lũng, chia thành các dạng địa hình chính sau:

a) Địa hình vùng núi cao Chư Yang Sin nằm ở phía đông nam của tỉnh.

b) Địa hình cao nguyên chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh, địa hình bằng phẳng, đường Quốc lộ 14 gần như là đỉnh phân thuỷ, cao ở giữa và thấp dần về hai phía, địa hình thấp dần từ đông bắc xuống tây nam.

c) Địa hình bán bình nguyên Ea Súp là vùng đất rộng lớn nằm ở phía tây của tỉnh.

d) Địa hình vùng bằng trũng Krông Pắc - Lắk nằm ở phía đông nam của tỉnh, giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột và dãy núi cao Chư Yang Sin, độ cao trung bình 400-500 m.

1.1.3. Khí hậu thời tiết

Do vị trí địa lý địa hình nên khí hậu ở Đắk Lắk vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên mát dịu. Song chịu ảnh hưởng mạnh nhất chủ yếu vẫn là khí hậu Tây Trường Sơn, đó là nhiệt độ trung bình không cao, mùa hè mưa nhiều ít nắng bức do chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, mùa đông mưa ít. Vùng phía đông và đông bắc thuộc các huyện M'Đrắk, Ea Kar, Krông Năng là vùng khí hậu trung gian, chịu ảnh hưởng khí hậu Tây và Đông Trường Sơn.

Nhìn chung, khí hậu chia làm hai mùa khá rõ rệt, mùa mưa từ tháng V đến tháng X kèm theo gió Tây Nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VII, VIII, IX lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa năm. Riêng vùng phía Đông do chịu ảnh hưởng của Đông Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng XI. Mùa khô từ tháng XI đến tháng IV năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng.

Khí hậu sinh thái nông nghiệp của tỉnh được chia ra thành sáu tiểu vùng:

- Tiểu vùng bình nguyên Ea Súp.

- Tiểu vùng cao nguyên Buôn Mê Thuột - Ea H’Leo.

- Tiểu vùng đồi núi và cao nguyên M’Đrắk.

- Tiểu vùng đất ven sông Krông Ana - Srêpôk.

- Tiểu vùng núi cao Chư Yang Sin.

- Tiểu vùng núi Rlang Dja.

Nhìn chung khí hậu khác nhau giữa các dạng địa hình và giảm dần theo độ cao: vùng dưới 300 m quanh năm nắng nóng, từ 400 - 800 m khí hậu nóng ẩm và trên 800 m khí hậu mát. Tuy nhiên, chế độ mưa theo mùa là một hạn chế đối với phát triển sản xuất nông sản hàng hoá.

Điểm neoĐiểm neoĐiểm neoĐiểm neoĐiểm neoĐiểm neo1.1.4. Thuỷ văn

Tỉnh Đắk Lắk có hai hệ thống sông chính chảy qua, đó là hệ thống sông Srêpôk và hai nhánh sông Krông H’năng và sông Hinh thuộc thượng nguồn hệ thống sông Ba. Hệ thống sông Srêpôk có diện tích lưu vực chiếm tới 2/3 diện tích tự nhiên toàn tỉnh, bao gồm lưu vực thuộc dòng chính Srêpôk và tiểu lưu vực Ea H’leo. Hệ thống sông suối dày đặc nhưng do địa hình dốc nên khả năng giữ nước kém, lưu lượng dòng chảy chênh lệch lớn giữa hai mùa (mùa mưa và mùa khô), những khe suối nhỏ hầu như không có nước trong mùa khô nên mực nước các sông suối lớn thường xuống rất thấp.

1.1.5. Các nguồn tài nguyên

. Tài nguyên đất

Theo kết quả điều tra đất của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp năm 2005. Đắk Lắk được chia thành 8 nhóm và 23 đơn vị đất.

- Nhóm đất phù sa: 55.206 ha, chiếm 4,22% diện tích tự nhiên (DTTN), đất được hình thành do sự bồi lắng phù sa của các sông suối, phân bố ven sông Krông Ana, Krông Nô. Đất phù sa tập trung nhiều ở các huyện Krông Pắk, Krông Ana, Krông Bông, Ea Súp, Lắk.

- Nhóm đất lầy và than bùn: 1.192 ha, chiếm 0,09% DTTN, phân bố tập trung ở huyện Ea Kar và một diện tích nhỏ ở huyện Krông Pắk. Đất lầy có địa hình thấp trũng, thường xuyên ngập nước.

- Nhóm đất đen: 26.534 ha, chiếm 2,03% DTTN, phân bố hầu hết ở các huyện, tập trung nhiều ở huyện Cư M’gar, Krông Păk, và TP. Buôn Ma Thuột.

- Nhóm đất xám và bạc màu: 144.822 ha, chiếm 11,07% DTTN, phân bố ở hầu hết các huyện trên nhiều dạng địa hình khác nhau, nhiều nhất ở các huyện Ea Súp, Ea Kar, Ea Hleo, M’Drắk.

- Nhóm đất đỏ vàng: 956.218 ha, chiếm 73,08% DTTN. Phân bố hầu hết các huyện trong tỉnh. Đất được hình thành trên sản phẩm phong hóa ferralit của các loại đá mẹ khác nhau, chủ yếu có địa hình đồi núi, độ cao dưới 900m.

- Nhóm đất mùn đỏ vàng trên núi: 64.055 ha chiếm 4,90% DTTN. Phân bố ở các vùng núi có độ cao từ 900-1800 m, khí hậu lạnh, ẩm độ cao thuộc các huyện Krông Bông, Lắk.

- Nhóm đất thung lũng: 11.548 ha chiếm 0,88% DTTN. Phân bố hầu hết các huyện trong tỉnh, tập trung nhiều ở huyện Ea Súp. Đất được hình thành từ các sản phẩm sườn tích, lũ tích hoặc dốc tụ từ địa hình cao xung quanh đưa xuống được gọi là đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ.

- Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: 27.538 ha, chiếm 2,10% DTTN. Tập trung chủ yếu ở các huyện Ea Hleo, Ea Súp và Buôn Đôn. Đất xói mòn trơ sỏi đá hình thành trên các loại đá mẹ khác nhau, do khai thác sử dụng quá mức, chặt phá hết thực bì, mặt đất trống trong mùa mưa, địa hình dốc, hoặc bản thân đá mẹ giàu khoáng trơ, rất khó phong hóa, hay tốc độ phong hóa tạo đất bằng hoặc nhỏ hơn tốc độ xói mòn rửa trôi.

b. Tài nguyên nước

Hàng năm, tổng lượng nước đến toàn lãnh thổ Đắk Lắk trên các lưu vực chính như Srêpôk 9 tỷ m3, Ea H’Leo 1,98 tỷ m3, sông Ba ở phía đông khoảng 3,25 tỷ m3. Tài nguyên nước mặt lớn, nhưng phân bố không đều, có một mùa mưa kéo dài dễ gây úng lụt và một mùa khô khắc nghiệt, thiếu nước nghiêm trọng. Lưu lượng nước phụ thuộc vào chế độ mưa hàng năm và thay đổi theo vùng. Biến động dòng chảy năm ở các vùng khá phức tạp, năm nước lớn có lượng dòng chảy gấp 1,5 - 2 lần trị số bình quân nhiều năm, năm nhiều nước gấp 1,5 - 5 lần năm ít nước. Sự biến động này khiến việc sử dụng, khai thác nguồn nước khó khăn. Công tác thuỷ lợi có ý nghĩa quyết định đối với phát triển kinh tế xã hội như thuỷ điện, sản xuất và đời sống. Hiện nay trên địa bàn có trên 461 hồ chứa, 63 đập dâng.

Do nguồn nước mưa cung cấp hàng năm tương đối lớn, cùng với khả năng thấm và giữ nước của một số thành tạo địa chất nên đã làm cho nguồn nước ngầm ở Đắk Lắk có vị trí quan trọng trong cán cân nước nói chung. Tài nguyên nước của vùng Đắk Lắk mất cân đối nghiêm trọng, về mùa khô các hồ tự nhiên, nhân tạo, các khu chứa nước rộng lớn tạo ra sự bốc hơi mặt nước. Lượng nước sử dụng (chủ yếu cho nông nghiệp) không được hoàn lại và bị mất một khối lượng lớn ước tính trên 20% lượng nước dùng trong mùa khô, ở những nơi mất rừng các con suối khô cạn, mức nước ngầm tụt sâu, các giếng đào, giếng khoan đều phải đào và khoan sâu thêm mới có nước.

c. Tài nguyên rừng

Theo kết quả kiểm kê rừng năm 2015, hiện trạng diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh như sau:

Tổng diện tích đất có rừng : 721.995,2 ha. Trong đó:

- Đất rừng sản xuất: 369.400,5 ha.

- Đất rừng phòng hộ: 80.213,4 ha.

- Đất rừng đặc dụng: 227.902,4 ha.

- Ngoài 3 loại rừng: 44.479,0 ha.

Diện tích còn rừng tự nhiên ở Đắk Lắk phân bổ ở phía nam thuộc vùng núi cao Chư Yang Sin (rừng thường xanh), phía tây thuộc huyện Ea Súp và Buôn Đôn bao gồm vườn Quốc gia Yôk Đôn và phía tây Ea Súp giáp với Căm Pu Chia (rừng khộp) và còn lại ở vùng núi thuộc huyện M'Đrắk, Ea Kar, Ea H’leo.

Rừng Đắk Lắk phong phú và đa dạng, thường có kết cấu 3 tầng: cây gỗ, có tác dụng phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn. Do đó rừng có vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai.

Diện tích rừng bị suy giảm cả về diện tích và chất lượng rừng, trong những năm gần đây mặc dù tình trạng chặt phá rừng đã hạn chế rất nhiều nhưng tình trạng khai thác lâm sản trái phép vẫn còn xảy ra. Những vùng còn rừng tự nhiên hiện nay phần lớn nằm ở địa hình dốc, hiểm trở hoặc là các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn Quốc gia không thích hợp cho sản xuất nông nghiệp.

d. Tài nguyên khoáng sản

Đắk Lắk là tỉnh có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, phần lớn các khoáng sản này chưa được nghiên cứu kĩ nên trữ lượng chỉ là dự báo. Các mỏ đã, đang khai thác chủ yếu cũng thuộc nhóm vật liệu xây dựng, rất ít khoáng sản được điều tra đánh giá kỹ lưỡng tạo nguồn nguyên liệu bền vững phục vụ cho khai thác quy mô công nghiệp. Tính đến nay, toàn tỉnh có 226 điểm khoáng sản gồm: mỏ, điểm quặng, điểm khoáng hóa với trên 28 loại khoáng sản khác nhau. Các khoáng sản chủ yếu là: Fenspat, đá vật liệu xây dựng cao cấp (đá ốp lát), than bùn, sét gạch ngói. Ngoài ra, còn có các loại khoáng sản khác như: vàng sa khoáng và vàng gốc...

1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

Tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố (Buôn Ma Thuột), 1 thị xã và 13 huyện. Trong đó có 184 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 152 xã, 20 phường và 12 thị trấn.

Phát triển kinh tế chủ đạo của Đắk Lắk dựa vào sản xuất và xuất khẩu nông sản, lâm sản (chiếm khoảng 60% GDP). Bên cạnh đó tỉnh có tiềm năng về du lịch sinh thái. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2018, tỉnh Đắk Lắk xếp ở vị trí thứ 40/63 tỉnh thành, nằm trong nhóm khá.

Đắk Lắk có diện tích trồng cà phê lớn nhất Việt Nam với trên 174.740 ha. Sản lượng hàng năm trên dưới 435.000 tấn cà phê nhân chiếm 40% sản lượng cả nước. Ngoài ra, tỉnh cũng là nơi trồng bông (bông vải), ca cao, cao su, điều lớn của Việt Nam. Đắk Lắk còn phát triển các loại cây ăn trái khác, đặc biệt như cây bơ, sầu riêng, chôm chôm, xoài... Hiện tại, cà phê và bơ của Đắk Lắk đã được mang thương hiệu của mình.

Các khu công nghiệp của Đắk Lắk có vị trí rất thuận lợi trong việc vận chuyển và lưu thông hàng hóa, tiềm năng lao động tại địa phương dồi dào, có sức thu hút đầu tư lớn. Hiện tại, Đắk Lắk định hướng ưu tiên đầu tư và phát triển ngành kinh tế mũi nhọn là trồng và khai thác các loại nông sản, cây công nghiệp; chế biến và xuất khẩu nông sản như mì, ngô… sản phẩm cây công nghiệp như cà phê, cao su, ca cao… Vì vậy nguồn thu từ ngành kinh tế nói trên mang lại cho tỉnh Đắk Lắk nguồn ngân sách rất lớn.

Tính đến 31/12/2017, Đắk Lắk có dân số 1.919.200 người gồm 47 dân tộc anh em sinh sống, trong đó người Ê Đê và người M'Nông là những dân tộc bản địa chính. Mật độ dân số đạt 147 người/km² (Tổng cục thống kê). Dân số tỉnh phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột, thị trấn, huyện lỵ, ven các trục Quốc lộ 14, 26, 27 chạy qua như Krông Búk, Krông Pắk, Ea Kar, Krông Ana. Các huyện có mật độ dân số thấp chủ yếu là các huyện đặc biệt khó khăn như Ea Súp, Buôn Đôn, Lắk, Krông Bông, M’Đrắk, Ea Hleo… Tỉnh Đắk Lắk có 710 trường học ở cấp phổ thông. Trong đó có Trung học phổ thông có 52 trường, Trung học cơ sở có 227 trường, Tiểu học có 425 trường và 6 trường phổ thông cơ sở. Với hệ thống trường học trên, nền giáo dục của tỉnh cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ.

Đắk Lắk có bản sắc văn hoá đa dạng như các trường ca truyền miệng lâu đời Đam San, Xinh Nhã dài hàng nghìn câu, như các ngôn ngữ của người Ê Đê, người M'Nông... như các đàn đá, đàn T'rưng, đàn k'lông pút... Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được tổ chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân các dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa của Đắk Lắk. Các lễ hội đáng chú ý: Lễ mừng lúa mới, Lễ bỏ mả, Lễ hội đâm trâu, Lễ cúng Bến nước, Lễ hội đua voi, Lễ hội Cồng chiêng và Lễ hội cà phê… được tổ chức đều đặn hàng năm như một truyền thống. Các di tích lịch sử tại Đắk Lắk như: đình Lạc Giao, chùa Sắc tứ Khải Đoan, nhà đày Buôn Ma Thuột, biệt điện Bảo Đại, toà Giám mục tại Đắk Lắk, hang đá Đắk Tur, tháp Yang Prong...

Điều kiện địa lý tự nhiên của Đắk Lắk thích hợp cho phát triển du lịch theo hướng kết hợp cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hóa của nhiều dân tộc trong tỉnh với hệ thống sông hồ, suối, thác như: sông Srêpôk, hồ Lắk, thác Đray Nur, thác Gia Long, thác Krông Kmar, cụm du lịch Buôn Đôn, Diệu Thanh, Tiên Nữ, khu du lịch Ko Tam, vườn quốc gia Chư Yang Sing, Yok Đôn, khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, Nam Ka... Không gian văn hóa cồng chiên Tây Nguyên là: “Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể" của nhân loại và các lễ hội văn hóa đặc trưng Tây Nguyên. Hệ thống khu du lịch, khách sạn, khu vui chơi giải trí được trải đều từ thành phố Buôn Ma Thuột đến các huyện và khu du lịch.

Tỉnh Đắk Lắk có sân bay Buôn Ma Thuột với tuyến bay từ Buôn Ma Thuột đến các thành phố lớn như: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng. Ngoài ra, 14 tỉnh lộ với tổng chiều dài 460 km, có quốc lộ 14 chạy qua nối với thành phố Đà Nẵng qua các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và nối với thành phố Hồ Chí Minh qua Bình Phước và Bình Dương... Song song với biên giới Campuchia có quốc lộ 14C. Quốc lộ 27 nối Buôn Ma Thuột với tỉnh Lâm Đồng. Quốc lộ 26 từ Đắk Lắk đi tỉnh Khánh Hòa, nối với quốc lộ 1A tại thị trấn Ninh Hoà, huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hòa. Quốc lộ 29 nối thị xã Buôn Hồ với tỉnh Phú Yên tại cảng Vũng Rô.


Tài liệu tham khảo:

1. Viện Quy hoạch và Thiết kết Nông nghiệp, Báo cáo điều tra bổ sung, chỉnh lý xây dựng bản đồ đất tỉnh Đắk Lắk (kèm theo bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000). Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hà Nội, 2005

2. Tổng cục Đất đai, Điều tra, đánh giá thoái hóa đất vùng Tây Nguyên phục vụ quản lý sử dụng đất bền vững, 2010Điểm neo

3. Trần Văn Con, Nghiên cứu các giải pháp tổng hợp phục hồi và quản lý hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn ở Tây Nguyên”, mã số TN3/T27 thuộc Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2011-2015 “Chương trình Tây Nguyên 3”. Lưu trữ Văn phòng Chương trình Tây Nguyên, Hà Nội, 2015Điểm neo

4. Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Tập tư liệu kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên 2001-2015. Buôn Ma Thuột, 2017.Điểm neo

5. https://vi.wikipedia.org/wiki/Đắk_Lắk