BIỂN HỒ

Từ Bách khoa toàn thư Việt Nam

Các tên gọi khác của Biển Hồ là hồ T’nưng, hồ Tơ Nuêng, hồ Tơ Nưng hay hồ Ea Nueng. Người dân địa phương gọi hồ này là T'Nưng, có nghĩa là "biển trên núi". Đây là một hồ nước ngọt nằm tại xã Biển Hồ, phía tây bắc thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai với tọa độ địa lý X= 107° 59' 58.8876"; Y= 14° 2' 22.653492". Hồ có vị trí cách trung tâm thành phố khoảng 7 km theo quốc lộ 14, nằm trên cao nguyên Pleiku với độ cao khoảng 800 m so với mực nước biển. Hồ có diện tích rộng khoảng 228 ha, độ sâu trung bình từ khoảng 12 -19 m, nơi sâu nhất đến 40 m.

Biển Hồ là dạng núi lửa âm độc đáo, phân bố cũng khá phổ biến ở Tây nguyên. Hồ gồm ba miệng núi lửa nằm liền kề nhau, tạo thành chuỗi hồ nước mênh mông có dạng gần hình bầu dục. Hồ là dấu tích phun trào basalt tuổi Pliocen - Pleistocen hệ tầng Túc Trưng (βN2-QItt), dạng lớp phủ, phun ra loại dung nham có độ nhớt thấp, không tạo nên chóp núi lửa mà tràn ra xung quanh tạo nên lớp phủ dung nham. Khu vực miệng núi lửa dễ bị phá hủy, tạo nên địa hình âm hình lòng chảo chứa nước (Tạ Hòa Phương, Trương Quang Hải, Đặng Văn Bào, 2015).

Các đặc tr­ưng thạch địa hóa của bazan thuộc hệ tầng Túc Tr­ưng khu vực Pleiku thường đa dạng và phức tạp. Trên biểu đồ Lebas (1986) các bazan này rơi chủ yếu vào các trường anđesitobazan, bazan á kiềm (Hy-Q) hoặc kiềm (Ne), trachybazan; ngoài ra còn gặp rải rác trong các trư­ờng bazanit, trachyt - anđesit- bazan. Đá của hệ tầng phổ biến dạng vi hạt, đôi khi gặp dạng ẩn tinh màu xám, xám đen đến màu đen; cấu tạo khối đặc sít hoặc lổ hổng, hạnh nhân. Kiến trúc phổ biến là porphyr với nền ofit, đolerit, vi khảm, gian phiến hoặc hyalopylit; tinh thể khoáng vật trong đá (ban tinh) thư­ờng chiếm từ 5-20% gồm olivin, augit, plagioclas, ít phổ biến hơn có hypersten hoặc enstatit. Các khoáng vật trong nền gồm plagiocclas (anđesin), augit, olivin, paragonit, aragonit, titanomagnetit, thủy tinh núi lửa, đôi khi có các mảnh nhỏ saphir (Cục Địa chất Việt Nam, 1997).

Biển Hồ là hệ sinh thái nước ngọt độc đáo, nơi sinh sống của nhiều loài thủy sinh như cá chép, cá trắm, cá trôi, cá đá, cá niềng, cá chày, rùa, ba ba, lươn,...tại khu vực này còn cư trú các loài chim như: bói cá, cuốc đen, kơ túc, kơ vông, le le, ngỗng trời, chơ rao, trắc la,... Xung quanh hồ phân bố rừng thông bạt ngàn, các trang trại cà phê và chè.

Biển Hồ không những là nguồn cung cấp nước mặt quý giá cho sinh hoạt và sản xuất ở vùng cao nguyên rộng lớn với mùa khô dài và khắc nghiệt, mà còn là nguồn cung cấp nguồn lợi thủy sản dồi dào cho dân cư trong vùng. Biển Hồ là một địa di sản độc đáo liên quan đến hoạt động núi lửa tại Tây Nguyên. Hồ có mặt nước mênh mông và cảnh quan xung quanh hấp dẫn, là nơi tham quan, nghỉ dưỡng lý thú cho du khách.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Địa chất Việt Nam (1997), Bản đồ địa chất và khoáng sản Việt Nam, tỷ lệ 1/200 000, tờ Pleiku (D-48-XXIV), 1997

2. Thắng cảnh Biển Hồ Pleiku, Gia Lai, Dân Việt, http://danviet.vn/que-nha/thang-canh-bien-ho-pleiku-gia-lai-27730.html, truy cập 04/10/2013 06:36 AM (GMT+7)

3. Tạ Hòa Phương, Trương Quang Hải, Đặng Văn Bào, Một số di sản thiên nhiên có giá trị nổi bật cho phát triển du lịch vùng Tây Nguyên, Tạp chí Các Khoa học về Trái Đất, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 37 (2), 182-192, 2015

4. Trương Quang Hải (chủ trì), Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tiềm năng du lịch, hoạch định không gian và đề xuất các giải pháp phát triển ở Tây Nguyên, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số TN3/TN18, 2016

5. Biển hồ Tơ Nưng - Thắng cảnh đẹp Gia Lai, Dulich24, http://dulich24.com.vn/du-lich-thanh-pho-pleiku/bien-ho-to-nung-id-5860, truy cập 24/6/2018

6. Biển hồ Tơ Nưng, Tổng cục Du lịch, http://www.vietnamtourism.com /index.php/tourism/ items/1445, truy cập 24/6/2018