CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM

Từ Bách khoa toàn thư Việt Nam
Phiên bản vào lúc 15:39, ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Admin (Thảo luận | đóng góp) (Tạo trang mới với nội dung “<p> </p> <p><strong>CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM</strong></p> <p> </p> <p><em>Vùng kinh tế trọn…”)
(khác) ← Phiên bản cũ | xem phiên bản hiện hành (khác) | Phiên bản mới → (khác)

 

CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM

 

Vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia gồm một số tỉnh, thành phố hội tụ được các điều kiện và yếu tố phát triển thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn, giữ vai trò động lực, đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của cả nước.

Các vùng KTTĐ có các đặc điểm chung sau:

- Là vùng tập trung nhiều yếu tố thuận lợi, tích cực cho việc phát triển kinh tế và có sức hấp dẫn các nhà đầu tư.

- Có tính quyết định đối với nền kinh tế nước nhà, hỗ trợ các vùng khác khi sở hữu tốc độ phát triển nhanh chóng, tỉ trọng GDP cao, thu hút được các ngành mới về lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.

- Các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam bao gồm nhiều tỉnh thành trong cả nước. Ranh giới giữa các vùng không cố định mà có thể thay đổi theo định hướng phát triển từng thời kì của đất nước.

Quá trình hình thành các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam:

Để thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước cũng như tạo mối liên kết và phối hợp trong phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) giữa các vùng kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã và đang cố gắng lựa chọn một số tỉnh/thành phố để hình thành nên vùng KTTĐ quốc gia có khả năng đột phá, tạo động lực thúc đẩy phát triển KTXH của cả nước với tốc độ cao và bền vững, tạo điều kiện nâng cao mức sống của toàn dân và nhanh chóng đạt được sự công bằng xã hội trong cả nước. Việc hình thành các vùng KTTĐ là nhằm đáp ứng những nhu cầu của thực tiễn nói chung và đòi hỏi của nền kinh tế Việt Nam nói riêng.

Giai đoạn 1: Trong năm 1997 và 1998, Thủ tướng Chính phủ đã lần lượt phê duyệt các quyết định số 747/1997/QĐ-TTg, 1018/1997/QĐ-TTg và Quyết định số 44/1998/QĐ-TTg về Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH ba vùng KTTĐ quốc gia đến năm 2010, bao gồm vùng KTTĐ Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ. Có 13 tỉnh/thành phố được xếp vào quy hoạch tổng thể phát triển KTXH các vùng KTTĐ.

 

Tên vùng

Các tỉnh thuộc vùng

Vùng KTTĐ Bắc bộ

Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương

Vùng KTTĐ miền Trung

Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi

Vùng KTTĐ phía Nam

TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa -Vũng Tàu, Đồng Nai

 

Giai đoạn 2: Năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định mở rộng ranh giới của các vùng KTTĐ:

- Thông báo số 99/TB-VPCP ngày 02/7/2003 đã bổ sung vào vùng KTTĐ Nam bộ thêm 3 tỉnh: Tây Ninh, Bình Phước, Long An. Tổng diện tích vùng KTTĐ sau khi bổ sung là 23.994,2 km2, bằng 7,3% diện tích cả nước. Dân số (tính đến năm 2002) là 12,3 triệu người, bằng 15,4% so với cả nước.

- Thông báo số 108/TB-VPCP ngày 30/7/2003 quyết định "Đồng ý bổ sung 3 tỉnh: Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc vào vùng KTTĐ Bắc bộ". Tổng diện tích vùng KTTĐ Bắc bộ sau khi bổ sung là 15.277 km2, bằng 4,64% diện tích và dân số (tính đến năm 2002) là 13,035 triệu người, bằng 16,35% so với cả nước.    

- Quy mô của vùng KTTĐ Trung bộ được mở rộng thêm tỉnh Bình Định. Như vậy, vùng có diện tích tự nhiên 27.879 km2, dân số năm 2002 có khoảng 6 triệu người, chiếm 8,47% về diện tích tự nhiên và khoảng 7,49% dân số so với cả nước.

Trong quá trình hình thành và phát triển, các vùng KTTĐ đang phát huy lợi thế, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, và không chỉ tạo ra động lực thúc đẩy sự chuyển dịch nhanh cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo chiều hướng tích cực mà còn góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển KTXH của các tỉnh lân cận trong vùng.

Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Quyết định số 145, 146, 148/2004/QĐ-TTg về phương hướng chủ yếu phát triển KTXH vùng KTTĐ đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020. Trong các quyết định này, quy mô của các vùng KTTĐ đã được mở rộng thêm 7 tỉnh gồm Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh (Bắc bộ); Bình Định (miền Trung) và Tây Ninh, Bình Phước, Long An (phía Nam).

 

Tên vùng

Các tỉnh thuộc vùng

Vùng KTTĐ Bắc bộ

Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc

Vùng KTTĐ miền Trung

Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định

Vùng KTTĐ phía Nam

TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, Long An

 

 

Giai đoạn 3: Nhằm tạo ra sự thống nhất, đồng bộ để đạt được hiệu quả cao trong phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh của các vùng KTTĐ, thực hiện thành công định hướng phát triển của các vùng KTTĐ được xác định trong Chiến lược phát triển KTXH; chủ trương, chính sách, đường lối phát triển KTXH của Đảng và Nhà nước về phát triển ba vùng KTTĐ ở nước ta, năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 159/2007/QĐ-TTg, ban hành Quy chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương đối với các vùng KTTĐ. Theo Quyết định này, quy mô của Vùng KTTĐ Nam bộ được mở rộng, bao gồm các tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh, Bình Phước, Long An, Tiền Giang.

Quốc hội khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 15/2008/QH12 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan. Theo đó, từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của tỉnh Hà Tây vào thành phố Hà Nội. Như vậy, Vùng KTTĐ Bắc bộ bao gồm 7 tỉnh: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh.

Ngày 16 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án thành lập vùng KTTĐ vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau. Theo đó, xây dựng Vùng KTTĐ vùng đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng phát triển năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, có đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế của đất nước, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cả vùng đồng bằng sông Cửu Long giàu mạnh, các mặt văn hoá, xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả nước; bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc phòng vững chắc.

 

Tên vùng

Các tỉnh thuộc vùng

Vùng KTTĐ Bắc bộ

Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc

Vùng KTTĐ miền Trung

Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định

Vùng KTTĐ phía Nam

TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, Long An, Tiền Giang

Vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long

TP. Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau

 

Vùng KTTĐ Bắc bộ (còn gọi là vùng KTTĐ phía Bắc): 

Vùng KTTĐ Bắc bộ là một trong bốn vùng KTTĐ của Việt Nam, nằm ở vị trí trung tâm của sự giao lưu giữa vùng Tây Bắc với vùng Đông Bắc, giữa vùng núi phía Bắc với miền Trung. Với vị trí địa lý tự nhiên, vùng KTTĐ Bắc Bộ là cửa ngõ vào - ra của các tỉnh phía Bắc Việt Nam, là nơi tập trung các tuyến đường, bến cảng hướng ra biển. Vùng KTTĐ Bắc Bộ bao gồm Thủ đô Hà Nội, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học - công nghệ của cả nước; có hai hành lang và một vành đai kinh tế trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.

Tổng diện tích của vùng KTTĐ bắc Bộ là khoảng 15.591 km2. Năm 2017, dân số vùng KTTĐ Bắc bộ là 15,9 triệu người, mật độ dân số lớn nhất trong 4 vùng KTTĐ đạt 1.011 người/km2.

Theo kết quả số liệu thống kê của các địa phương và niên giám thống kê cả nước, giai đoạn 2011-2017, GRDP của vùng KTTĐ Bắc bộ tăng 8,27%, cao hơn tốc độ tăng GDP 1,08%. Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh 2010) bình quân năm 2018 của vùng đạt 9,08%, cao nhất trong số 4 vùng KTTĐ. Tuy nhiên, tổng GRDP của vùng đến năm 2018 chiếm tỷ trọng khoảng 31,73% GRDP của cả nước và chiếm 35,52% GRDP của 4 vùng kinh tế trọng điểm, vẫn đứng thứ hai sau vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (45,42%). Trong đó Hà Nội dẫn đầu toàn vùng đóng góp 16,96% về GRDP cả nước.

Nhờ sự tăng trưởng này, GRDP bình quân đầu người của vùng cũng tăng từ 4.164 USD năm 2016 lên 4.813 USD năm 2018, gấp 1,86 lần so với mức trung bình cả nước và đứng thứ hai sau vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Cơ cấu kinh tế của vùng chuyển dịch theo hướng tích cực, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Trong đó, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản có tỷ trọng thấp nhất trong GRDP so với các vùng kinh tế trọng điểm khác, trong khi khu vực dịch vụ có tỷ trọng cao nhất trong GRDP so với các vùng khác.

Một số địa phương có tỷ trọng khu vực dịch vụ lớn trong GRDP như Hà Nội (64%, cao nhất cả nước), Hải Phòng (44,05%). Đến năm 2018, tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm 3,71% trong cơ cấu kinh tế vùng.

Nguồn: Atlat Địa lý Việt Nam

Ngành công nghiệp - xây dựng tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của vùng và tập trung đều vào tất cả các địa phương, thu hút được nhiều dự án đầu tư quy mô lớn, quan trọng tại một số tỉnh, thành phố của vùng như Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng. Giai đoạn 2016 - 2018, ngành công nghiệp - xây dựng của vùng đóng góp gần 40% GDP của cả nước và tập trung chủ yếu từ các ngành công nghiệp mũi nhọn như: điện, điện tử, lắp ráp ô tô, đóng tàu, dệt may, công nghiệp phụ trợ.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng ấn tượng, một số địa phương trong vùng nằm trong tốp những địa phương tăng trưởng cao nhất cả nước như TP. Hải Phòng tăng 25,01% cao nhất từ trước đến nay.

Ngành dịch vụ có mức tăng trưởng mạnh nhất trong cơ cấu kinh tế của vùng. Đến năm 2017, khu vực dịch vụ của vùng đóng góp vào tăng trưởng GRDP là 3,73%, cao nhất trong các vùng kinh tế trọng điểm.

Vị trí lợi thế là cửa ngõ ra biển ở khu vực phía Bắc, có nhiều cảng container đã và đang được đầu tư và tiếp tục mở rộng (Cảng Đình Vũ, Cảng Cái Lân, Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng tại Lạch Huyện…) đã góp phần phát triển dịch vụ logistics và tăng khả năng cạnh tranh loại hình này với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Toàn vùng có 27 trung tâm logistics, chiếm 55% tổng số logistics cả nước, tập trung chủ yếu tại Bắc Ninh (14), Hà Nội (11), Hải Phòng (2).

Vùng KTTĐ miền Trung (còn gọi là vùng KTTĐ Trung bộ):

Vùng KTTĐ miền Trung gồm 5 tỉnh, thành: Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa các vùng phía Bắc và phía Nam của Việt Nam, là cửa ngõ quan trọng thông ra biển của vùng Tây Nguyên. Vùng KTTĐ miền Trung được xem là vùng có ý nghĩa chiến lược và điều kiện thuận lợi hình thành một hành lang giao lưu kinh tế, thương mại quan trọng, nối Tây Nguyên, Mi-an-ma, Cam-pu-chia và Lào với đường hàng hải quốc tế qua Biển Ðông và Thái Bình Dương. Sự phát triển kinh tế của vùng này sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác hợp lý các nguồn lực tài nguyên và lao động, giải quyết việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng của các vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Vùng KTTĐ miền Trung có diện tích tự nhiên là 27.976,7 km2, chiếm khoảng 8,4% diện tích tự nhiên của cả nước. Dân số trung bình năm 2015 là 6,5 triệu người, chiếm 7,2% dân số cả nước. Dân số đô thị chiếm 33,1% dân số của vùng (tỷ lệ này của cả nước là 29,6%).

Tốc độ tăng GRDP bình quân mỗi năm giai đoạn 2011-2017 của vùng dao động từ 3,28% đến 10,45%. Với xuất phát điểm thấp, quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng nhờ vào sự nỗ lực của các địa phương và sự chỉ đạo hỗ trợ, quyết tâm cao của Chính phủ trên các lĩnh vực công nghiệp, du lịch, trung chuyển hàng hóa quốc tế, đánh bắt hải sản xa bờ, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền,… vì vậy kinh tế của vùng đã có sự khởi sắc và tăng trưởng nhanh.

Năm 2011, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vùng KTTĐ miền Trung chiếm 15,69%; công nghiệp và xây dựng chiếm 30,41%; dịch vụ chiếm 38,14% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 15,76%. Đến năm 2017, cơ cấu ngành kinh tế các vùng KTTĐ đã có sự chuyển dịch. Tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 2,54%; công nghiệp và xây dựng tăng 2,47%; dịch vụ tăng 2,86%. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2011 – 2017, theo tính toán của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế của vùng chậm nhất trong 4 vùng trọng điểm và chậm hơn so với tốc độ chuyển dịch của cả nước

Năng lực cạnh tranh của vùng được cải thiện đáng kể. Thành phố Đà Nẵng là địa phương có năng lực cạnh tranh rất tốt, tỉnh Quảng Nam thuộc nhóm tốt, 3 tỉnh còn lại thuộc nhóm khá. 

Hiện nay, Vùng KTTĐ miền Trung có 4 khu kinh tế ven biển, gồm: Chân Mây - Lăng Cô (Thừa Thiên-Huế), Chu Lai (Quảng Nam), Dung Quất (Quảng Ngãi), Nhơn Hội (Bình Định) và 19 KCN được Thủ tướng cho phép thành lập (chiếm 5,8% số KCN cả nước và khoảng 45,2% số KCN của 14 tỉnh miền Trung).

Các KKT và KCN trong vùng đã thu hút hơn 1.280 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 500.000 tỷ đồng; vốn đầu tư thực hiện hơn 210.000 tỷ đồng; thu ngân sách khoảng 36.000-40.000 tỷ đồng. Trong đó, đầu tư vào các KKT có 420 dự án (chiếm 32,8%) với vốn đầu tư đăng ký hơn 380.000 tỷ đồng (chiếm 76%); thu ngân sách khoảng 30.000 tỷ đồng (chiếm 70 -75%).  

Nguồn: Atlat Địa lý Việt Nam Vùng KTTĐ phía Nam (còn gọi là vùng KTTĐ Nam bộ)

Vùng KTTĐ phía Nam (còn gọi là vùng KTTĐ Nam bộ)

Vùng KTTĐ phía Nam bao gồm 8 tỉnh, thành phố gồm thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa Vũng Tàu, Long An, Đồng Nai và Tiền Giang. Diện tích tự nhiên toàn vùng là 30.524 km2, chiếm 9,2% diện tích cả nước. Năm 2017, vùng KTTĐ phía Nam có quy mô dân số lớn nhất trong 4 vùng, với gần 20 triệu người, mật độ dân số 655 người/km2.

Vùng KTTĐ phía Nam có nguồn tài nguyên dầu khí chiếm tỷ trọng lớn của cả nước. Đây là những cơ sở nguyên liệu năng lượng quan trọng cho phép phát triển mạnh mẽ công nghiệp điện và khai khoáng, nhất là khai thác và chế biến dầu khí. Đặc biệt, trong vùng có nhiều khu công nghiệp có thế mạnh để phát triển sản phẩm công nghệ cao có giá trị lớn, có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Bên cạnh đó, tiềm năng và thế mạnh của vùng là có thổ nhưỡng phù hợp và trình độ thâm canh tương đối cao nên hầu hết các loại cây công nghiệp trồng ở vùng KTTĐ phía Nam đều cho năng suất cao.

Vùng KTTĐ phía Nam có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển KTXH của cả nước; là vùng hội tụ đủ các điều kiện và lợi thế để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đặc biệt là phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện, điện tử, công nghiệp dầu khí; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao.    

Tận dụng những lợi thế có được trong quá trình phát triển, vùng KTTĐ phía Nam luôn dẫn đầu trong 4 vùng về kết quả tăng trưởng kinh tế. Tuy diện tích chỉ chiếm 9,2% và dân số chiếm 21% của cả nước, nhưng GRDP của vùng chiếm hơn 45% cả nước, đóng góp trên 42% tổng thu ngân sách.

Tổng GRDP của vùng KTTĐ phía Nam đến năm 2018 đạt khoảng 2.517 nghìn tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hằng năm, thời kỳ 2016-2018, đạt khoảng 6,72%/năm; thu nhập bình quân đầu người đạt 6.407 USD/người năm 2018, gấp 2,48 lần so bình quân cả nước; thu ngân sách năm 2018 đạt khoảng 608 nghìn tỷ đồng.

Cơ cấu kinh tế của vùng KTTĐ phía Nam cũng hiện đại hơn so với cả nước, thể hiện ở tỷ trọng cao của ngành công nghiệp, xây dựng và tỷ trọng nhỏ của khu vực nông, lâm, thủy sản. Năm 2011, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vùng KTTĐ phía Nam chiếm 7,46%; công nghiệp và xây dựng chiếm 45,13%; dịch vụ chiếm 36,49% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,92%. Đến năm 2017, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 1,36%; công nghiệp và xây dựng giảm 3,59%; dịch vụ tăng 4,73%.

Có thể khẳng định vùng KTTĐ phía Nam là trung tâm sản xuất công nghiệp của Việt Nam và đây cũng là lĩnh vực kinh tế quan trọng nhất của vùng. Năm 2018, cả nước có 250 khu công nghiệp đi vào hoạt động thì riêng vùng KTTĐ phía Nam có 129 khu công nghiệp đang hoạt động. Bên cạnh đó, vùng còn là nơi tập trung gần 100 cụm công nghiệp.

Nhờ vậy, vùng đã thu hút được nguồn vốn đầu tư dồi dào. Nếu năm 2017, Việt Nam thu hút vốn đầu tư FDI được 345 tỷ USD thì có hơn 173 tỷ USD “đổ” vào khu vực này và vùng tiếp tục là điểm đến của nhiều nhà đầu tư nước ngoài (FDI). Trong 4 tỉnh, thành đang dẫn đầu Việt Nam về thu hút đầu tư FDI thì có 3 tỉnh, thành nằm trong vùng là TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương. 

Tuy nhiên, theo đánh giá, tốc độ tăng trưởng vùng kinh tế trọng điểm phía nam bắt đầu có xu hướng chậm dần. Nếu trước 2015, tăng trưởng bình quân cao gấp 1,5 lần so với tăng trưởng chung của cả nước, thì từ 2016-2018, tăng trưởng của vùng này chỉ đạt 6,6% - ngang với tăng trưởng của cả nước. Tỷ trọng tăng trưởng công nghiệp, dịch vụ giảm dần: năm 2016, ngành công nghiệp xây dựng chiếm tỷ trọng 57,63%, đến năm 2018 còn 57,11%; ngành dịch vụ từ 49%/năm giảm còn 46,12%. Trong công nghiệp chưa có thêm các sản phẩm mới có hàm lượng chất xám, kỹ thuật cao, các sản phẩm cao cấp có công nghệ cao, giá trị gia tăng cao còn chiếm tỷ lệ thấp so với cả vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long

Vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau. Toàn vùng rộng 16.260 km2, chiếm 5% diện tích cả nước, 18,4% diện tích các vùng KTTĐ, với dân số năm 2017 khoảng 6,4 triệu người, bằng 7,4% dân số cả nước và bằng 15% dân số các vùng KTTĐ.

Vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long được xác định là vùng trọng điểm về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, trái cây, đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ sinh học, cung cấp giống, các dịch vụ kỹ thuật, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long; góp phần quan trọng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông, thủy sản cả nước.

Năm 2011, tỷ lệ GRDP/GDP của vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long đạt 4,92%. Đến năm 2017, tỷ lệ này chỉ còn 4,69%. Có thể thấy, mức tăng trưởng GRDP của vùng còn thấp hơn mức tăng trưởng GDP. Quy mô GRDP của vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long còn rất nhỏ so với GDP và so với GRDP của vùng KTTĐ Bắc bộ và vùng KTTĐ phía Nam. Năm 2017, GRDP của vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long chỉ bằng 19,7% GRDP vùng KTTĐ Bắc bộ và bằng 12,5% vùng KTTĐ phía Nam. Mức đóng góp của vùng vào tổng thu ngân sách của nhà nước cũng rất khiêm tốn, chỉ có 2,22%. Như vậy, vùng KTTĐ này chưa thể hiện được vai trò đầu tàu dẫn dắt tăng trưởng kinh tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Về cơ cấu kinh tế, trong giai đoạn 2011-2017, nhìn chung chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long nhanh hơn so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế 3 vùng còn lại và cả nước. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long năm 2011 chiếm 33,65%; công nghiệp và xây dựng chiếm 22,97%; dịch vụ chiếm 40,21% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 3,17%. Đến năm 2017, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của vùng giảm 8,50%; công nghiệp và xây dựng tăng 0,17%; dịch vụ tăng 7,71%. Đây là xu hướng chuyển dịch tích cực đáng ghi nhận ở một vùng mà kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào các hoạt động nông, lâm nghiệp và thủy sản. Điều này có thể được giải thích bởi xuất phát điểm của vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long thấp hơn so với mức chung của cả nước.

GRDP bình quân đầu người ở vùng KTTĐ này có xu hướng tăng. Giai đoạn 2011 - 2017, tốc độ tăng GRDP bình quân đầu người mỗi năm vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long tăng 5,36%. Tuy nhiên, mức tăng này còn thấp hơn so với mức tăng GDP bình quân đầu người cả nước (6,06%).

Đứng trước nhiều khó khăn, các địa phương trong vùng KTTĐ đã chủ động xây dựng chương trình thu hút vốn đầu tư phù hợp với kế hoạch phát triển KT-XH đề ra. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2011-2017 của vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long 652,4 nghìn tỷ đồng, bằng 5,1% tổng số vốn đầu tư của cả 4 vùng. Tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội bình quân năm trong giai đoạn 2011-2017 của vùng là 5,68%. Tốc độ tăng vốn đầu tư phản ánh vai trò của vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long ngày càng cao trong việc góp phần làm tăng tốc độ tăng trưởng GDP, mặt khác còn thể hiện sự lan tỏa của vùng trong việc giải quyết nhu cầu đầu tư cho xã hội, tạo ảnh hưởng tốt đối với các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài.

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Bộ giáo dục và đào tạo. Atlat Địa lý Việt Nam. NXB Giáo dục Việt Nam, 2000
  2. Cục xúc tiến thương mại, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ chủ động hội nhập WTO. NXB tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2009
  3. Nguyễn Văn Nam, Chính sách phát triển bền vững các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam. NXB Thông tin và Truyền thông, 2010
  4. Cục xúc tiến thương mại, Vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. NXB tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2012
  5. Cục xúc tiến thương mại, Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và các tỉnh lân cận chủ động hội nhập WTO. NXB tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2012
  6. Lê Thông, Nguyễn Quý Thao, Việt Nam các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm. NXB Giáo dục Việt Nam, 2013
  7. Cổng thông tin điện tử của Chính phủ. Các vùng kinh tế trọng điểm quốc gia. Nguồn : <a href="http://www.vietnam.gov.vn/portal/page/portal/chinhphu/vungkinhtetrongdiemquocgia?categoryId=881">http://www.vietnam.gov.vn/portal/page/portal/chinhphu/ vungkinhtetrongdiemquocgia</a>