CA HUẾ

Từ Bách khoa toàn thư Việt Nam

CA HUẾ

           Thể loại âm nhạc thính phòng phát sinh và phát triển ở Huế. Đây là loại nhạc giải trí của giới quý tộc, trí thức ở kinh đô Huế ngày xưa, được đánh giá là một trong ba thể loại âm nhạc thính phòng đặc sắc của Việt Nam bên cạnh Ca Trù ở miền Bắc và Đờn ca Tài tử ở miền Nam.

           Cho đến nay, thời điểm ra đời của CH chưa được khẳng định chắc chắn. Các nhà nghiên cứu đời sau đoán định rằng CH có từ thế kỷ XVIII dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725) do đây là lúc tình hình văn hóa xã hội ở Đàng Trong đi vào ổn định, nghệ thuật có điều kiện phát triển để phục vụ cho tầng lớp quý tộc ở Huế - thủ phủ của Đàng Trong. Tuy vậy, CH chỉ xuất hiện trong các tư liệu lịch sử kể từ thế kỷ XIX khi Huế trở thành kinh đô của cả nước. Đây là lúc CH có điều kiện phát triển để phục vụ cho nhu cầu giải trí của giới quyền quý và tao nhân mặc khách bốn phương hội tụ về đây.

Chủ nhân của nghệ thuật CH là các ông hoàng bà chúa, các quan lại, trí thức và các nghệ sĩ tài danh. Xuất thân từ cung vua phủ chúa, được giới quyền quý và các bậc thức giả rất mực ưa chuộng, CH đã được nâng cao về mặt nội dung và nghệ thuật. Tiếng đàn, giọng ca được trau chuốt, nắn nót hơn, các lời ca hay và ý nghĩa được sáng tác ngày càng nhiều. Kể từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, nghệ thuật CH đạt đến giai đoạn cực thịnh, nó đã lan tỏa mạnh mẽ ra Bắc, vào Nam. Hệ thống “hơi Huế” đã ảnh hưởng khá rõ nét trong Chèo và Quan họ của miền Bắc, trong khi đó, CH lan truyền về phía Nam tạo ra phong trào “đờn Quảng” ở vùng Nam Trung bộ và “đờn ca Tài tử” ở Nam bộ. Còn tại quê hương mình, vào những thập niên đầu của thế kỷ XX, các làn điệu CH cùng với dân ca đã được sử dụng để tạo ra một loại hình sân khấu mới là Ca kịch Huế.

CH thường được trình diễn trong một không gian tương đối nhỏ hẹp, có thể trong phủ đệ của các ông hoàng bà chúa hay một khoang thuyền lơ lửng trên dòng sông Hương. Những buổi chiều tà, đêm xuống, gác qua một bên những lo toan bận rộn của cuộc sống đời thường, một nhóm nhỏ những người tri âm tri kỷ mộ điệu cùng nhau thưởng thức và trổ tài văn chương, âm nhạc. Họ cùng nhau trình diễn và thưởng thức âm nhạc, lời ca trong không khí ấm cúng của những người tri âm đồng điệu. Dàn nhạc tiêu chuẩn trong CH là dàn ngũ tuyệt, gồm 5 nhạc cụ: tranh, tỳ bà, nhị, nguyệt, tam; về sau, đàn tam được thay bằng đàn bầu. Dàn nhạc này đệm cho một ca nương vừa ca vừa gõ phách giữ nhịp cho toàn dàn nhạc. Trong các buổi trình diễn, có vài ca nương thay nhau ca các bài bản, còn các nhạc công thì trình diễn từ đầu đến cuối.

Số lượng bài bản âm nhạc của CH không nhiều và thay đổi theo từng thời kỳ. Tuy vậy, số lượng các lời ca thì rất phong phú do những người tri âm mộ điệu thường dựa vào giai điệu của các bản nhạc để đặt thêm nhiều lời ca mới. Âm nhạc trong CH thể hiện được khá phong phú các cung bậc tình cảm của con người. Để diễn tả hai trạng thái tình cảm đối lập là vui và buồn, trong CH có hơi Khách (Bắc) và hơi Nam (Ai). Bên cạnh đó là một số loại hơi nhạc khác như hơi Xuân, hơi Thiền, hơi Dựng, thể hiện các trạng thái tình cảm khác nhau của con người.

Trong nghệ thuật CH, khoảng cách giữa người trình diễn và khán giả rất gần nhau, có khi được hòa làm một. Khán giả phần lớn đều trong giới tri âm mộ điệu, có tài văn chương nghệ thuật nên họ thường sáng tác các lời ca mới để ca nương trình bày, vì vậy, khán giả có khi cũng là tác giả. Người đàn có thể là những nhạc công chuyên nghiệp, nhưng cũng có khi là những vị hoàng thân, trí thức, quan lại đam mê rèn luyện tiếng đàn, lấy đó làm thú vui tao nhã. Nhiều người vừa đàn hay, lại vừa là tác giả của những lời ca sâu sắc, giàu tính nghệ thuật, đồng thời cũng là người thưởng thức sành điệu. Như thế, CH là một cuộc chơi của những người tri âm đồng điệu, lấy âm nhạc và văn chương làm cảm hứng để thăng hoa trong nghệ thuật.

Là một thú chơi tao nhã ở kinh đô Huế, nội dung của các bài CH phản ánh rõ nét tâm tư, tình cảm, quan niệm sống của giới quyền quý và các bậc thức giả ngày xưa. Thời kỳ đầu, nhiều lời ca được sáng tác bằng chữ Hán, về sau chuyển sang lời Nôm với một thứ ngôn ngữ văn chương trau chuốt, giàu hình tượng. Nội dung lời ca thể hiện tình yêu quê hương, yêu phong cảnh thiên nhiên nên thơ, trữ tình hay những nhân vật gắn liền với lịch sử xứ Huế. Đề tài tình yêu nam nữ chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong nội dung của các bài bản CH. Đó là một thứ tình cảm sâu nặng, đa phần là ngang trái của những tâm hồn nghệ sĩ sống thiên về tình cảm: những vương vấn trong buổi đầu gặp gỡ, mong ước được trọn tình với nhau, hay những thổn thức, đau đớn vì phải chia xa,… Một nội dung quan trọng của CH là những suy tư về nhân tình thế thái của giới trí thức Huế ngày xưa. Đặc biệt, trong giai đoạn lịch sử nước nhà mất chủ quyền vào tay thực dân, rồi triều đình sụp đổ, lịch sử sang trang. Giới quyền quý, quan lại trở nên lạc lõng trước những đổi thay của thời cuộc, những giá trị vốn là khuôn phép giờ đây bị xáo trộn và đảo lộn, cho nên tư tưởng yếm thế, xuất thế xuất hiện khá nhiều trong nội dung của các bài CH.

           Theo thời gian, nghệ thuật CH có nhiều biến đổi về hệ thống bài bản, nội dung và phong cách, nghệ thuật diễn xướng. CH đã và đang được giảng dạy trong các trường chuyên nghiệp và được trình diễn phục vụ khách du lịch, nhưng nội dung của nó đã có một số thay đổi so với trước đây.

Tài liệu tham khảo:

Thái Văn Kiểm, Cố đô Huế, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1960.

Văn Lang, Ca Huế và Ca kịch Huế, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993.

Hoàng Yến, Âm nhạc Huế: đờn nguyệt và đờn tranh, Tạp chí Những người bạn Huế xưa, bản dịch của Đặng Như Tùng, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1998, tr.83–237.

Bùi Ngọc Phúc (Chủ nhiệm đề tài), Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca Huế, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, lưu hành nội bộ, Huế, 2013.

Nhiều tác giả, Ca Huế - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2019.

 

 

KÉO VỢ (hei pux)

            nghi thức mang tính bắt buộc trong quy trình nghi lễ hôn nhân cổ truyền của nhiều cộng đồng Hmông ở phía Bắc Việt Nam. Tục KV có lịch sử lâu đời, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của các cộng đồng người Hmông. Một số nhà nghiên cứu cho rằng phong tục này có nguồn gốc từ tư tưởng mẫu hệ, có ý nghĩa bảo vệ phụ nữ trong các cuộc hôn nhân.

           KV là nghi thức diễn ra trước lễ cưới và hoàn toàn mang tính tự nguyện, phải được sự đồng ý của các cô gái. Theo quy định của tập quán, khi đến tuổi lập gia đình, sau khi tìm hiểu và ưng ý một cô gái nào đó, bố mẹ hoặc chính người con trai sẽ tổ chức một đoàn người, thường từ 3 đến 5 thành viên, đi kéo cô gái đã được chọn về nhà mình để làm vợ. Nhóm người đi KV ít nhất phải có từ 3 đến 5 người. Thành viên của đoàn KV thường là những người khỏe mạnh và biết cách không làm đau cô gái trong cuộc giằng co với gia đình bên nhà gái hoặc chính bản thân cô gái để đưa cô gái về nhà. Từ lúc cô gái bị kéo về nhà chàng trai cho đến lúc cuộc hôn nhân diễn ra là một quá trình của sự thương thoả, lựa chọn và phần chủ động trong quá trình này hoàn toàn thuộc về người phụ nữ, kể cả trong trường hợp cô gái hoàn toàn bị động trong lúc kéo. Sau khi hoàn tất công việc kéo cô gái về gia đình, nhà trai sẽ cử chị gái hoặc em gái của người con trai ngủ chung 3 đêm với cô gái. Thông qua những đêm trò chuyện, cô gái sẽ có cơ hội hiểu hơn về nếp sống của gia đình chàng trai. Trong ba ngày ở lại gia đình, chàng trai cũng sẽ dẫn cô gái đi thăm họ hàng, ruộng nương của gia đình để cô gái biết nhiều hơn về gia cảnh của gia đình nhà chồng tương lai. Nếu cô gái đồng ý ở lại làm dâu, vào buổi sáng ngày thứ tư, đại diện gia đình nhà trai sẽ giã bánh dầy, mổ gà cắt tiết đánh dấu, rồi đưa cô gái về nhà lấy đồ. Đoàn sang nhà gái nhất thiết phải có cha mẹ và người con trai. Đến nhà gái, người con trai phải quỳ lạy tất cả các thành viên của nhà gái để làm quen. Đáp lại, bên nhà gái cũng chuẩn bị bữa cơm tiếp đãi nhà trai. Trong bữa ăn này, người nhà gái sẽ hỏi thật kĩ lưỡng liệu cô gái có chấp nhận cuộc sống cả đời với bên nhà trai không. Nếu cô gái chấp nhận, hai bên gia đình mới bàn chuyện cưới xin cho đôi trẻ. Ngược lại, nếu cô gái không đồng ý, cuộc hôn nhân sẽ không được tiến hành và người con gái sẽ chờ đợi những cuộc kéo khác cho đến khi tìm được người đàn ông mà cô yêu thương và muốn lấy làm chồng.

           KV, nhìn từ quan điểm của người trong cuộc, đặc biệt là phụ nữ Hmông, có ý nghĩ đặc biệt quan trọng trong đời sống hôn nhân của họ. KV, trước hết, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao vị thế của người phụ nữ trong cuộc sống gia đình sau hôn nhân cũng như trong xã hội bởi trong quan niệm người Hmông, việc các cô gái được các chàng tra kéo về thể hiện sự giá trị đặc biệt của họ đối với người chồng tương lai. Đối với cuộc sống gia đình sau hôn nhân, KV cũng giúp nâng cao vị thế của người phụ nữ trong quan hệ với gia đình chồng cũng như chính người chồng. Xuất phát từ quan niệm truyền thống “các cô gái không bao giờ tự bước vào nhà chồng”, nên nếu người phụ nữ không được “kéo” mà tự theo về theo chồng thì “bố mẹ sẽ nghĩ cô gái đó chỉ là bạn của con trai, chứ không phải vợ và vì thế cô gái sẽ không được công nhận”. Trong trường hợp cô gái tự theo chàng trai về mà bố mẹ chàng trai không đồng ý nhận con dâu thì cô gái sẽ bị đẩy vào tình thế ‘tiến thoái lưỡng nan’: bỏ về nhà mình thì bị ‘mất giá trị’ còn ở lại theo chồng thì sẽ không được các thành viên gia đình nhà chồng coi trọng, một tình huống người phụ nữ sẽ không bao giờ phải đối mặt nếu tục KV được thực hiện. Trong quan hệ với chính người chồng của mình trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là khi hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, những người phụ nữ được chồng “kéo” về sẽ giữ được thế chủ động so với những người phụ nữ không thực hiện tục này. Gia đình nhà chồng cũng bắt buộc phải chia tài sản cho cô dâu nếu đôi vợ chồng trẻ ly dị bởi, theo quan điểm người Hmông, người phụ nữ luôn được người chồng kéo về mà không phải tự theo về. Ngoài các ý nghĩa xã hội trên, đối với nhiều gia đình, nhất là những gia đình chưa hoặc không có đủ điều kiện tổ chức đám cưới ngay, KV là một giải pháp tốt, linh hoạt để người nghèo cũng có thể lấy được vợ, vì theo tập quán của người Hmông, sau thủ tục KV đôi trai gái sẽ được cộng đồng công nhận là vợ chồng cho dù gia đình chưa có điều kiện tổ chức tiệc cưới mời dân làng.

           Do chỉ quan sát thấy hiện tượng “kéo”, hoặc thậm chí được nâng lên thành “cướp”, nghi thức KV truyền thống của người Hmông bị coi là thực hành hôn nhân có tính “ép buộc”, “cưỡng bức”, tạo ra sự bất công đối với người phụ nữ, là “hủ tục” cần phải loại bỏ trong đời sống của cộng đồng. Trong Phụ lục B ban hành kèm theo Nghị định của Chính phủ Quy định việc áp dụng Luật hôn nhân và Gia đình đối với các dân tộc thiểu số ban hành năm 2002, KV còn bị đưa vào trong Danh mục phong tục tập quán lạc hậu cần nghiêm cấm thực hiện hay được vận động để xoá bỏ. Tuy nhiên, nghi thức KV là hoàn toàn tự nguyện, có ý nghĩa bảo vệ và nâng cao giá trị của người phụ nữ. Do có giá trị đặc biệt với người phụ nữ Hmông như vậy nên, cho dù nhiều gia đình không còn tiến hành thủ tục KV theo đúng trình tự của nghi thức truyền thống, song khi đón dâu về, nhiều gia đình nhà trai vẫn tiến hành thực hiện nghi thức "KV" bằng cách lôi mạnh tay cô dâu vào nhà khi đoàn rước dâu đến cửa.

Tài liệu tham khảo:

Viện Dân tộc học, Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc), Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội, 1978.

Hoàng Nam, Cư Hoà Vần, Người Mông ở Việt Nam, Hà Nội: Nxb.Khoa học xã hội, 1996

Hoàng Cầm, Nguyễn Trường Giang, Đa dạng văn hoá - bài học từ những câu chuyện, Hà Nội: Nxb. Thế Giới, 2013.