LUẬT AN NINH QUỐC GIA

Từ Bách khoa toàn thư Việt Nam

LUẬT AN NINH QUỐC GIA

Văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành xác định các nguyên tắc, chính sách, biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, nghĩa vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, của các ngành, các cấp và của mọi công dân trong công cuộc bảo vệ an ninh quốc gia. LANQG lần đầu tiên được Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03.12.2004, có hiệu lực kể từ ngày 01.7.2005.

          LANQG kế thừa được những kinh nghiệm quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia từ ngày thành lập Nước đến nay; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp và tổ chức thực hiện pháp luật của quốc tế trong lĩnh vực này. Mục đích xây dựng LANQG là tạo ra công cụ pháp lý có hiệu lực để huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội vào việc bảo vệ an ninh quốc gia của Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trong tình hình mới.

          Về nội dung, LANQG năm 2004 gồm 5 chương 36 điều.

          Chương I LANQG có 13 điều, từ Điều 1 đến Điều 13, quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật; chính sách của Nhà nước về an ninh quốc gia; nguyên tắc hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia; xây dựng lực lượng và điều kiện bảo đảm cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia; trách nhiệm, nghĩa vụ, chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia; tuyên truyền, giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia; các hành vi bị nghiêm cấm và chính sách xử lý các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia. Việc xác định đúng chính sách của Nhà nước trong xử lý các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia có ý nghĩa quan trọng đối với công tác đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, nhằm phân hoá hàng ngũ các phần tử chống đối. Điều 12 Chương này quy định rõ: Mọi hành vi xâm phạm an ninh quốc gia đều phải bị xử lý nghiêm minh, kịp thời theo đúng quy định của pháp luật. Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối thì bị nghiêm trị; người bị ép buộc, lừa gạt, dụ dỗ nhận làm việc cho tổ chức, cá nhân để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia mà tự thú, thành khẩn khai báo thì được khoan hồng; nếu lập công thì được khen thưởng; người nước ngoài có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam ở ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị xử lý theo pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định.

          Chương II LANQG có 8 điều, từ Điều 14 đến Điều 21, quy định về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia; các biện pháp cơ bản bảo vệ an ninh quốc gia; xây dựng nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân, cơ quan, tổ chức, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong bảo vệ an ninh quốc gia; bảo vệ an ninh quốc gia khi có tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh; áp dụng một số biện pháp cần thiết khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp. Trong Chương này, tại Điều 15 có quy định các biện pháp cơ bản bảo vệ an ninh quốc gia bao gồm vận động quần chúng, pháp luật, ngoại giao, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, nghiệp vụ, vũ trang. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan chức năng áp dụng khi thực thi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia. Tuy nhiên, Luật chỉ quy định có tính nguyên tắc, còn nội dung, thẩm quyền, thủ tục áp dụng các biện pháp này được quy định trong một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, trường hợp chưa có sẽ được quy định cụ thể trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

          Chương III LANQG có 7 điều, từ Điều 22 đến Điều 28, quy định các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia cũng như quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia; trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ của cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia; chế độ quản lý thông tin, tài liệu, đồ vật về bảo vệ an ninh quốc gia và chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia. Xuất phát từ thực tiễn công tác đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, Khoản 1, Điều 24 Chương này có quy định các quyền hạn quan trọng cho cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia. Tuy nhiên, các quyền hạn đó liên quan đến các quyền và lợi ích cơ bản của con người. Vì vậy, để tránh vi phạm, tại Khoản 2 Điều này có quy định “Thủ trưởng cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia quyết định việc sử dụng các quyền hạn quy định tại Khoản 1 Điều này theo thủ tục, thẩm quyền do Chính phủ quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình”. Bên cạnh đó, Luật cho phép “cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia trong khi thực hiện nhiệm vụ được quyền xuất trình giấy chứng minh an ninh trong trường hợp cần thiết để yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân giúp đỡ”; giấy chứng minh an ninh chỉ có giá trị chứng minh nhân thân của cán bộ chuyên trách khi thi hành công vụ, chứ không có giá trị để thực hiện các quyền năng khác.

          Chương IV LANQG có 6 điều, từ Điều 29 đến Điều 34, quy định nội dung quản lý nhà nước về an ninh quốc gia; Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an ninh quốc gia; trách nhiệm của Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và của các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia. Có ý kiến cho rằng, bảo vệ an ninh quốc gia là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự sống còn của chế độ, do vậy cần phải được quản lý, điều hành tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; song, Luật không giao cho Hội đồng quốc phòng và an ninh đảm nhiệm việc thống nhất quản lý lĩnh vực này, vì Hội đồng quốc phòng và an ninh là cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp quy định, nhưng không phải là cơ quan quản lý nhà nước nên nếu giao cho cơ quan này nhiệm vụ đó là không phù hợp. Tuy nhiên, Điều 20 Luật này cũng đã quy định về bảo vệ an ninh quốc gia khi có tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh, trong đó “Hội đồng quốc phòng và an ninh có trách nhiệm động viên mọi lực lượng và khả năng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc; thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt do Quốc hội giao” là để phù hợp với quy định trong Hiến pháp.

          Chương V LANQG gồm Điều 35 và Điều 36, quy định hiệu lực của luật, giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật An ninh quốc gia, Hà Nội, 2004.

2. Luật An ninh quốc gia và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2014.

3. Nguyễn Văn Thung, Hỏi và đáp về Luật An ninh quốc gia, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.