SÁU ĐIỀU BÁC HỒ DẠY CÔNG AN NHÂN DÂN

Từ Bách khoa toàn thư Việt Nam

SÁU ĐIỀU BÁC HỒ DẠY CÔNG AN NHÂN DÂN

ngày 25.01.1948, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 2 được tổ chức tại Tuyên Quang. Hội nghị đã phát động phong trào thi đua “Rèn cán bộ, lập chiến công” trong toàn lực lượng Công an nhân dân. Hưởng ứng phong trào này, các sở, ti Công an đã tổ chức giao ước thi đua và có giải thưởng cho các tập thể, cá nhân lập công xuất sắc, tạo khí thế thi đua hăng say, nhiệt huyết trong công tác, chiến đấu, rèn luyện đạo đức, lối sống giữa các đơn vị và cán bộ, chiến sĩ Công an.

Cùng với tờ nội san “Rèn luyện” của Nha Công an Trung ương, nhiều khu, sở, ti Công an cũng ra nội san nhằm tuyên truyền giáo dục chính trị, huấn luyện nghiệp vụ và hướng dẫn công tác cho cán bộ, chiến sĩ Công an. Tờ nội san “Bạn Dân” của Công an Khu XII là một trong những nội san tiêu biểu. Sau khi dự Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 2, đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an Khu XII đã viết thư kính gửi lên Chủ tịch Hồ Chí Minh và biếu Người tờ nội san “Bạn Dân” số Tết Mậu Tý (1948). Trong thư, đồng chí ca ngợi công lao của Đảng, của Bác và báo cáo với Bác về niềm tin, niềm tự hào, phấn khởi của quân và dân ta sau chiến thắng Thu - Đông năm 1947, đồng thời có nguyện vọng xin ý kiến chỉ đạo của Bác về nhiệm vụ, biện pháp công tác, nội dung giáo dục đạo đức, tác phong cho cán bộ, chiến sĩ Công an; tôn chỉ, mục đích và những việc phải làm của báo chí Công an. Đáp ứng nguyện vọng đó, ngày 11.3.1948, Bác Hồ đã có thư gửi đồng chí Giám đốc Công an Khu XII, trong thư Bác viết:

“Trên báo cần thường xuyên làm cho anh chị em công an nhận rõ công an của ta là Công an nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ và dựa vào dân mà làm việc. Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai, mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong. Trên tờ báo phải luôn nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách, đạo đức:

Tư cách người Công an cách mệnh là:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

Đối với công việc, phải tận tuỵ.

Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.

Nói tóm lại là những đạo đức và tư cách mà người Công an cách mệnh phải có, phải giữ đúng. Những điều đó, chẳng những nên luôn luôn nêu trên báo mà lại nên viết thành ca dao cho mọi người công an học thuộc, nên viết thành khẩu hiệu dán tại những nơi các anh em công an thường đến (bàn giấy, nhà ăn, phòng ngủ..), v.v.”.

Những nội dung ngắn gọn, súc tích trong thư là những lời dạy ân cần của Chủ tịch Hồ Chí minh đối với toàn lực lượng Công an nhân dân. Sáu điều Bác Hồ dạy chứa đựng một tư tưởng lớn, mang tầm chỉ đạo chiến lược trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân.

Trước hết, trong cách ứng xử với bản thân, Bác Hồ dạy cán bộ, chiến sĩ Công an “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính” và điều này được đặt lên hàng đầu trong Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân. Cần, kiệm, liêm, chính là phẩm chất đạo đức cao đẹp của mỗi người, là cơ sở để điều chỉnh các mối quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước, với nhân dân, với tập thể, với đồng chí một cách đúng đắn nhất.

Cần là “siêng năng, chăm chỉ, cố gắng kéo dài”, là thể hiện sự tự giác trong lao động, học tập, công tác và chiến đấu; đã nhận nhiệm vụ gì thì phải tận tâm, tận lực, chịu khó tìm tòi, sáng tạo để tạo nên hiệu quả công việc cao nhất, đóng góp nhiều nhất cho xã hội, vừa ích nước, vừa lợi nhà.

Kiệm là “tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”. Tiết kiệm về mọi mặt: thời gian, vật chất, công sức, v.v. và biết sử dụng nó một cách có hiệu quả, tránh lãng phí. Bác nói “Cần với kiệm phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người”.

Liêm là “trong sạch, không tham lam”, không xâm phạm tài sản của nhà nước, của tập thể và của người khác, “không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, v.v.”; “Chữ liêm phải đi đôi với chữ kiệm”. Bản thân mình phải liêm, giúp đỡ mọi người cùng liêm, như vậy liêm mới hoàn chỉnh.

Chính là “thẳng thắn, đứng đắn”, thật thà, trung thực, lời nói đi đôi với việc làm, không làm những điều trái với đạo đức, trái với pháp luật, là biết đánh giá đúng bản thân, không tự kiêu, tự đại, biết “mình vì mọi người”. Chính là biết đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải, lên án những cái sai, cái xấu, đấu tranh với mọi hành vi vi phạm chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần giữ vững kỷ cương, giữ vững an ninh, trật tự.

Cần, kiệm, liêm, chính quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một hệ thống chuẩn mực đạo đức cơ bản của con người mới, góp phần xác lập mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống và hướng người Công an nhân dân vào mục tiêu phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Thứ hai, Bác dạy “Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ”. Đồng sự là “những người cùng làm việc với nhau trong một cơ quan”, là đồng đội, đồng chí; cùng công tác, chiến đấu vì sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Thân ái giúp đỡ đồng sự là mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an tự mình cố gắng hoàn thành tốt nhất phần việc của mình, đồng thời có tinh thần phối hợp, tạo điều kiện, hỗ trợ đồng đội trong công tác để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Trong công tác, quan hệ đồng sự phải bảo đảm bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau; đặt mục tiêu vì công việc, nhiệm vụ chung, không vì mục đích cá nhân. Phải luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thương yêu lẫn nhau, không cục bộ, địa phương, không “kéo bè, kéo cánh”; thực hiện phương châm sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; thân ái giúp đỡ nhau trong công tác, học tập, sinh hoạt hàng ngày, lúc đồng đội ốm đau, khó khăn, kể cả khi mắc sai lầm, khuyết điểm. Đối với đồng chí, mình phải thân ái giúp đỡ nhưng không được che giấu khuyết điểm cho nhau mà là phải giúp nhau nhận rõ thành tích để phát huy, thấy rõ hạn chế, khuyết điểm để thật thà sửa chữa. Phê bình đồng đội phải xuất phát từ tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, càng yêu thương đồng chí thì càng phải thẳng thắn phê bình, chỉ có phê bình với thái độ công tâm, chân thành mới thực sự giúp nhau cùng tiến bộ. Không nên tranh giành ảnh hưởng và cũng không nên ghen ghét, đố kỵ, khinh người không bằng mình; cũng không nên có thái độ nể nang, sợ mất lòng nhau. Trong quan hệ đồng chí, đồng đội phải luôn chặt chẽ, nghiêm khắc với mình, rộng rãi, độ lượng với người; sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội; coi tiến bộ của đồng đội là tiến bộ của bản thân mình; đấu tranh để chiến thắng chủ nghĩa cá nhân.

Thứ ba, “Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành”. Trung thành với Chính phủ có nghĩa là trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, với Tổ quốc và nhân dân lao động Việt Nam, với Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tuyệt đối không được lừng chừng, không được ngả nghiêng, dao động. Đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân - những người được Đảng giao cho trọng trách bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân thì lại càng phải tuyệt đối trung thành vì Công an nhân dân “chỉ biết còn Đảng thì còn mình”. Cán bộ, chiến sĩ Công an là người chuyên trách thi hành chính sách, pháp luật để bảo vệ an ninh, trật tự; là công cụ để bảo vệ chính quyền, bảo vệ lợi ích của nhân dân, là người đại diện cho lẽ phải, cho pháp luật - nếu ngả nghiêng, dao động là xa rời nhiệm vụ, xa rời vị trí chiến đấu; cao hơn nữa là không trung thành hoặc trung thành nhất thời, nửa vời sẽ dẫn đến đầu hàng, phản bội Tổ quốc, đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Vấn đề này luôn luôn có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cuộc đấu tranh, sự mất còn của chế độ. Vì vậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân của cán bộ, chiến sĩ Công an phải là đức tính không thể thiếu, là phẩm chất chính trị, là lập trường quan điểm và phải thường trực trong tâm trí mỗi người vì đó là điểm xuất phát chỉ đạo mọi hoạt động thực tiễn của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong từng công việc cụ thể của mình. Trung thành với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân không chỉ là bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan của Đảng, Nhà nước, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân mà còn là tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định chiến lược, sách lược, lãnh đạo toàn quân và toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng. Lòng trung thành của cán bộ, chiến sĩ Công an thể hiện ở thái độ kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của công cuộc đổi mới, sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội; là tinh thần nhiệt tình cách mạng, sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi Đảng, Tổ quốc và nhân dân yêu cầu; là ý chí vươn lên, vượt qua khó khăn, gian khổ, thách thức, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Thứ tư, “Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép”. Nội dung này đòi hỏi người chiến sĩ Công an nhân dân phải biết dựa vào nhân dân, gắn bó với nhân dân, kính trọng, lễ phép và lắng nghe ý kiến, học hỏi nhân dân nhưng không được quên vai trò hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ của mình, phải làm cho dân tin, phải làm tấm gương cho dân; “phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai mà phải thành tâm học hỏi quần chúng, dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng”. Thái độ “kính trọng, lễ phép” với nhân dân không chỉ được thể hiện trong giao tiếp phải giữ đúng lễ tiết, tác phong khi thi hành nhiệm vụ; không chỉ là thái độ niềm nở, chào hỏi lễ phép khi quan hệ, tiếp xúc với nhân dân mà phải bằng những hành động cụ thể, ở mỗi việc làm hàng ngày của cán bộ, chiến sĩ, gương mẫu, dám chịu trách nhiệm trước nhân dân, chấp nhận hi sinh để bảo vệ nhân dân. Điều này thể hiện ý thức, trách nhiệm trước công việc, trước nhân dân; tận tâm, tận lực giải quyết những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; “hết lòng vì nhân dân phục vụ, lấy niềm vui, hạnh phúc của nhân dân làm lẽ sống của mình; việc gì có lợi cho nhân dân phải hết sức làm, việc gì phiền hà, không có lợi cho dân phải hết sức tránh; phải thường xuyên lắng nghe ý kiến của nhân dân, v.v.; điều chỉnh, cải tiến, đổi mới lề lối làm việc sao cho gần dân, làm cho dân ngày càng tin yêu, quý trọng, giúp đỡ lực lượng Công an”. Kính trọng, lễ phép với nhân dân trở thành yêu cầu, là nguyên tắc, là nhân cách của mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an.

Thứ năm, “Đối với công việc, phải tận tuỵ”   . Trong điều dạy này của Bác Hồ, “công việc” là công việc cách mạng, công việc chung của nhân dân, công việc mà cán bộ, chiến sĩ Công an được giao để phục vụ nhân dân; “tận tuỵ” là lòng trung thành, sự hi sinh, sự đam mê, miệt mài với công việc, là tinh thần phục vụ, là sự cố gắng trau dồi kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực làm việc để phục vụ; không so bì “hơn kém, được thua” về hưởng thụ, về quyền lợi cá nhân. Cán bộ Công an phải luôn ý thức “phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ hiểm nguy. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công”. Tận tuỵ với công việc đòi hỏi phải có động cơ, thái độ làm việc đúng đắn, khắc phục tư tưởng trung bình chủ nghĩa, làm việc cầm chừng, nặng về đòi hỏi quyền lợi là chính, ít có suy nghĩ về cống hiến; là làm việc gì cũng phải có chương trình, kế hoạch rõ ràng, hợp lý, từ kế hoạch dài hạn đến kế hoạch ngắn hạn. Làm người công an là phải toàn tâm, toàn ý, hết lòng hết sức làm việc; làm công tác công an phải luôn xác định rõ không có việc sang hay hèn, phải thực sự cầu thị, dốc lòng tận tuỵ, nhẫn nại, có kỷ luật cao; luôn xây dựng ý thức chăm lo đổi mới, cải tiến phương pháp làm việc, hình thành tác phong làm việc chu đáo, nền nếp, cẩn thận, có tính khoa học và hiệu quả thiết thực; không gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân. Đó cũng là lời căn dặn của Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ Công an: “việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi, đến chốn, v.v.. Tác phong phải khách quan, thiết thực, phải tăng cường công tác điều tra nghiên cứu tổng kết và trao đổi kinh nghiệm giữa các ngành công an”. Chỉ có tận tuỵ với công việc, chiến sĩ Công an mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, mới xứng đáng với sự tin cậy của Đảng và sự tin yêu của nhân dân.

Cuối cùng, Bác dạy “Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chí để phân biệt bạn, thù là lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc. Người nói “Đối với người, ai làm gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta tức là kẻ thù”. Người Công an nhân dân trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải đoàn kết, dũng cảm trước địch, nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, ý đồ và hoạt động chống đối của các thế lực thù địch, các loại tội phạm, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu trước sức tấn công quyết liệt bằng bất cứ thủ đoạn thâm độc nào của các thế lực thù địch. Đấu tranh chống kẻ địch phải cương quyết, cứng rắn, không khoan nhượng, đó là nguyên tắc, là lập trường giai cấp công nhân, thể hiện tính triệt để cách mạng nhưng đồng thời phải có sách lược đấu tranh thật uyển chuyển, khôn khéo, mềm dẻo, mưu trí, sáng tạo. Cương quyết là thể hiện ý chí quyết tâm, khí phách cách mạng và sức mạnh của lực lượng Công an nhân dân; cương quyết trong chủ trương và biện pháp công tác; cương quyết ở người chỉ huy và người thực hiện, ở tổ chức và từng cán bộ, chiến sĩ. Khôn khéo về chủ trương, đối sách, trong phương pháp và vận dụng biện pháp, sử dụng lực lượng đấu tranh. Có khôn khéo, có mưu trí sáng tạo thì đấu tranh mới có kết quả và mới cương quyết thực sự. Nếu chỉ đề cao thái độ cương quyết mà không khôn khéo, mưu trí trước kẻ thù, không thấy hết được ý đồ thủ đoạn của địch thì rất dễ dẫn đến chủ quan, nóng vội và dễ sai lầm trong hành động. Trái lại, nếu khôn khéo mà thiếu tính cương quyết, quyết đoán, thiếu ý chí tiến công địch thì cũng dễ bỏ lỡ thời cơ, dẫn tới bị động, lúng túng trước kẻ thù. Công tác công an phải luôn chủ động tiến công, tiến công liên tục, tiến công để bảo vệ một cách vững chắc. Cương quyết và khôn khéo chính là những yêu cầu hết sức căn bản trong phẩm chất đạo đức, năng lực của người cán bộ Công an nhân dân. Bác Hồ dạy “Đối với địch phải cương quyết, khôn khéo” nhưng khi kẻ thù đã quy hàng thì người công an phải biết lấy “cải tà quy chính”, lấy việc thay đổi bản chất của kẻ thù làm trọng. Điều đó được hiểu là: đối với kẻ ngoan cố, không chịu đầu hàng, không chịu cải tà quy chính thì phải có thái độ dứt khoát, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật; còn đối với những người thực sự ăn năn hối cải thì phải áp dụng chính sách mềm dẻo, khoan hồng, dùng giáo dục thuyết phục, mở đường cho họ tiến bộ, lập công chuộc tội.

Trân trọng, giữ gìn và phát huy Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân là biểu thị tình cảm sâu sắc của lực lượng Công an nhân dân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh; là hành động thiết thực của cán bộ, chiến sĩ Công an thể hiện sự trung thành tuyệt đối với Đảng, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân, hoàn thiện bản thân xứng đáng với danh hiệu cao quý: Công an nhân dân. Sáu điều Bác Hồ dạy là một huấn thị hoàn chỉnh, khoa học, có quan hệ nhân quả, điều trước là tiền đề của điều sau, điều sau bổ sung cho điều trước. Mỗi lời dạy là một phương châm hành động, một thế ứng xử đúng đắn, hiệu quả và nhân văn. Đó là một trong những di sản vô cùng quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho lực lượng Công an nhân dân, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của lực lượng Công an nhân dân, là chuẩn mực về phẩm chất đạo đức, tư cách của người Công an cách mạng trong mọi thời đại. Bác Hồ đã từng viết “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. “Học tập và thực hiện Sáu điều Bác dạy là một trong những nhân tố quyết định sự trưởng thành, lớn mạnh không ngừng của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam; là yếu tố quyết định cho Công an nhân dân hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được Đảng, Bác Hồ và nhân dân giao phó”. Sáu điều Bác dạy là mục tiêu, là phương châm, là nguyên tắc, là kim chỉ nam xây dựng đạo đức người Công an nhân dân và xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.

Ngay từ năm 1948, khi cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn gay go, quyết liệt, phong trào Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy đã gắn với phong trào thi đua ái quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Lực lượng Công an toàn quốc đã tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị, lấy Sáu điều Bác Hồ dạy là nội dung học tập, phấn đấu thực hiện nghiêm túc bằng nhiều hình thức khác nhau như tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ nghiên cứu, quán triệt nội dung bức thư; mở lớp chỉnh huấn; tổ chức tuyên thệ trung thành với Tổ quốc và thực hiện nghiêm túc Sáu điều Bác Hồ dạy. Năm 1951, Sở Công an Nam Bộ tổ chức biên soạn, xuất bản thành sách “Sáu lời dạy của Hồ Chủ tịch” để cán bộ, chiến sĩ học tập, quán triệt thực hiện. Trong Kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, phong trào Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy được gắn với phong trào thi đua yêu nước, phong trào “bảo mật phòng gian” trong lực lượng. Đất nước thống nhất, cả nước tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phong trào Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy tiếp tục được duy trì, đẩy mạnh và có sự chỉ đạo sát sao, xuyên suốt trong toàn lực lượng Công an nhân dân. Phong trào thời kỳ này được chia thành từng bước cụ thể, định rõ thời gian tập trung thực hiện, sát hợp với tính chất, đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của từng lực lượng, đơn vị, địa phương, nội dung các bước tiến hành luôn gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh. Cùng với phong trào “hành động cách mạng theo Sáu điều Bác Hồ dạy, xây dựng đơn vị vững mạnh, toàn diện”, các đợt sinh hoạt chính trị “Hành quân theo bước chân những người anh hùng”, “Hành quân theo chân Bác” đã góp phần làm cho phong trào Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy trở thành cuộc vận động sâu rộng.

Từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, phong trào Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy tiếp tục được lãnh đạo Đảng, Nhà nước quan tâm và có nhiều bài viết, bài nói, phát biểu chỉ đạo, động viên. Các cấp uỷ đảng, chính quyền cũng đã có chỉ thị, nghị quyết, v.v. lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành tạo điều kiện, quan tâm giúp đỡ lực lượng Công an học tập, thực hiện tốt Sáu điều Bác Hồ dạy. Các ban, bộ, ngành, đoàn thể ở trung ương, địa phương, các tầng lớp nhân dân đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ và có nhiều hình thức cổ vũ, động viên, góp ý kiến, giám sát, giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ công an học tập, thực hiện nghiêm túc Sáu điều Bác Hồ dạy. Bộ Công an đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị để triển khai, thực hiện tốt phong trào Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy với nhiều hình thức, biện pháp cụ thể, sát hợp với tình hình thực tiễn chiến đấu, xây dựng lực lượng trong mỗi giai đoạn cách mạng, nhằm đưa phong trào đi vào nền nếp, có chiều sâu cũng như để vận dụng sáng tạo Sáu điều Bác Hồ dạy vào từng lĩnh vực công tác công an trong thời kỳ mới. Công an các đơn vị, địa phương đã nghiên cứu, biên soạn nhiều tài liệu, sách; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính trị, trao đổi, tọa đàm, hội thảo khoa học cũng như thực hiện các cuộc vận động như “Bác Hồ với Công an nhân dân - Công an nhân dân với Bác Hồ” (1990); “Công an nhân dân thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (1998); “Xây dựng lực lượng Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ” (2007); “60 năm Công an nhân dân làm theo lời bác” (2008); “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh; xây dựng nếp sống văn hoá vì nhân dân phục vụ” (2011). Việc tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ sinh hoạt chính trị, liên hệ kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Sáu điều Bác Hồ dạy gắn với đánh giá, phân loại, bình xét thi đua hằng năm của tập thể, cá nhân, nhất là trong đánh giá cán bộ để quy hoạch, luân chuyển, điều động, đào tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ; phát động các cuộc thi đua ngắn, thi đua đặc biệt, ký kết giao ước thi đua, báo công dâng Bác; phát động học tập gương cán bộ, chiến sĩ công an mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu, liêm khiết và tận tuỵ trong công việc, biểu dương và nhân rộng điển hình tiên tiến... làm cho phong trào thêm phong phú, sinh động. Các hoạt động trên đã góp phần khẳng định sự lớn mạnh không ngừng, phát triển cả bề rộng và chiều sâu, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ của phong trào Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy. Phong trào luôn được duy trì và liên tục phát triển, thực sự là động lực quan trọng thúc đẩy, động viên, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

2. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011

3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 9, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011

4. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011

5. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011

6. Hồ Chí Minh, Sửa đổi lối làm việc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018.

7. Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2005.