SẢN XUẤT CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM

Từ Bách khoa toàn thư Việt Nam

SẢN XUẤT CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM

 

Ngành cà phê Việt Nam được đánh dấu từ năm 1857 do các thầy tu mang về trồng tại nhà thờ ở Hà Nam, Quảng Bình, Kom Tum. Đến năm 1888, đồn điền cà phê đầu tiên được người Pháp khởi sự nằm ở Kẻ Sở, Bắc Kỳ với giống cà phê chè (Coffea arabica) được trồng ở vùng ven sông. Tiếp đến cây cà phê được trồng thêm ở các vùng Tây Bắc, Phủ Quỳ - Nghệ An, Đắk Lắk, Lâm Đồng. Đến năm 1930 Việt Nam đã có 5.900 ha diện tích trồng cà phê.

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, diện tích cà phê ở miền Bắc được phát triển thêm tại một số nông trường quốc doanh và thời kỳ có diện tích cao nhất là trên 10.000 ha vào các năm 1963, 1964. Thập kỷ 60, Việt Nam đã phát triển một số nông trường quốc doanh về cà phê ở các tỉnh phía Bắc như vùng Sơn La - Tây Bắc. Đặc biệt trong khoảng thời gian này, những năm 1964 -1967 diện tích trồng cà phê đạt mức cực đại với 13.000 ha. Cà phê trồng ở miền Bắc trong những năm trước đây chủ yếu là cà phê chè, năng suất thường đạt từ 400 - 600 kg/ha, có một số điển hình thâm canh tốt đã đạt trên 1 tấn/ha. Hạn chế lớn nhất đối với việc trồng cà phê chè ở miền Bắc là tác hại của sâu bệnh. Sâu đục thân (Xylotrechus quadripes) và bệnh gỉ sắt cà phê (Hemileia vastatrix), là hai đối tượng sâu bệnh hại nguy hiểm nhất. Do điều kiện sinh thái không phù hợp, đặc biệt là có một mùa đông giá lạnh kéo dài, vì vậy cây cà phê vối (Canephora robusta)  khó có khả năng phát triển ở miền Bắc, nhiều vùng đã trồng cà phê vối sau phải hủy bỏ vì kém hiệu quả.

Ở miền Nam trước ngày giải phóng, vào năm 1975 diện tích cà phê có khoảng 10.000 ha. Tại Đắk Lắk có khoảng 7.000 ha, Lâm Đồng 1.700 ha và Đồng Nai 1.100 ha. Diện tích trồng cà phê ở miền Nam trước ngày giải phóng chủ yếu là giống cà phê vối, một số diện tích nhỏ cà phê chè được trồng ở Lâm Đồng. Năng suất cà phê vối trong thời kỳ này thường đạt trên dưới 1 tấn/ha, ở một số đồn điền có quy mô vừa và nhỏ cũng đã đạt năng suất từ 2 - 3 tấn/ha.  Nhà máy cà phê hòa tan đầu tiên được người Pháp xây dựng tại Biên Hòa - Đồng Nai vào năm 1969 - Nhà máy Cà phê Coronel, với công suất 80 tấn/năm.

Sau 1975, ngành cà phê Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh vượt bậc. Giai đoạn này phải kể đến các kết quả cải cách sau năm 1986, doanh nghiệp tư nhân được nhân rộng, dẫn đến một sự phát triển đột biến của ngành công nghiệp chế biến cà phê. Mối liên kết hợp tác giữa người trồng, sản xuất và nhà nước đã đem đến kết quả trong việc xây dựng thương hiệu cà phê thành phẩm và xuất khẩu sản phẩm bán lẻ. Mà điển hình trong giai đoạn này là cà phê Trung Nguyên vào năm 1996 và Highlands Coffee vào năm 1998.

Vào cuối những năm 1990, Việt Nam đã trở thành nhà sản xuất cà phê thứ hai thế giới sau Brazil. Từ chỗ cả nước chỉ có vài chục ngàn hecta cà phê các loại, đến nay đã có khoảng 535.000 ha cà phê.

Việt Nam trải dài trên 15 vĩ độ đã cho phép ngành cà phê trồng cà phê vối yêu cầu khí hậu nóng ẩm ở phía Nam và trồng cà phê chè thích nghi với khí hậu ôn hòa hơn ở phía Bắc, và một số vùng cao rải rác ở phía Nam. Đó là một chiến lược khai thác tiềm năng đất đai, khí hậu và lao động của cả nước một cách hợp lý, mang lại hiệu quả cao.

Có ba vùng sinh thái trồng cà phê chè trên địa bàn cả nước:

- Vùng Tây Bắc với địa hình núi non hiểm trở, nhiệt độ trung bình thấp và trọng điểm là vùng cà phê chè Sơn La được giới chuyên môn nhận định như Sao Paulo của Brazil.

- Tiếp nối vùng cà phê chè Tây Bắc, miền Trung là vùng thứ 2 thống lĩnh cà phê chè ở Việt Nam. được biết đến với hai địa danh trồng cà phê lớn là cà phê Phủ Quỳ - Nghệ An và cà phê Khe Sanh - Quảng Trị.

- Tỉnh Lâm Đồng, thuộc vùng cà phê Tây Nguyên với những điều kiện tự nhiên thuận lợi và nằm cùng vĩ độ với quốc gia Trung Mỹ Costa Rica có truyền thống lâu năm là nước sản xuất cà phê chất lượng cao trên thế giới. Vì vậy, Việt Nam không hoài nghi về việc cây cà phê chè Tây Nguyên hoàn toàn đủ điều kiện cạnh tranh với các loại cà phê chè đẳng cấp từ vùng cà phê Trung và Nam Mỹ.

Cà phê vối được trồng chủ yếu tại vùng Tây Nguyên của Việt Nam. Chủ yếu tập trung vào 5 tỉnh Tây Nguyên gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Một số tỉnh trung du như Đồng Nai và Vũng Tàu cũng có trồng cà phê vối.

Hiện nay, trong tổng sản lượng cà phê Việt Nam, cà phê vối chiếm 93%, cà phê chè trên 6% và cà phê mít chiếm dưới 1%. Vì giá trị thương phẩm thấp nên diện tích cà phê mít (Coffea excelsa) đang giảm dần. Năm 2015, sản lượng cà phê vối Việt Nam chiếm trên 37% sản lượng cà phê vối và 13% tổng sản lượng cà phê toàn cầu. Việc sản xuất được chủ yếu tập trung vào giống cà phê vối với chất lượng thua kém cà phê chè nhằm phục vụ xuất khẩu nhưng dưới dạng cà phê nhân thô, chưa qua chế biến là một yếu điểm của cà phê Việt Nam.

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội cà phê thế giới, Việt Nam là nước sản xuất cà phê lớn thứ hai, sau Brazil, chiếm khoảng 18% tổng sản lượng sản xuất cà phê thế giới năm 2016. Cả nước có 643.159 ha cà phê, trong đó diện tích cà phê cho thu hoạch gần 600.000 ha, tăng 5.500 ha so với năm 2015, trên 500.000 ha cà phê dưới 15 tuổi đang trong thời kỳ kinh doanh. Năng suất cà phê niên vụ 2015-2016 đạt 24,3 tạ/ha, sản lượng đạt trên 1,459 triệu tấn cà phê nhân, tăng 5.500 tấn so với niên vụ trước. Trong năm 2016, Việt Nam đã xuất khẩu gần 1,8 triệu tấn cà phê nhân với kim ngạch trên 3,36 tỉ USD, tăng 34% khối lượng và tăng 26% giá trị so với năm 2015. Nhiều tín hiệu cho thấy cà phê Việt Nam đang khẳng định được vị thế của mình và đang có cơ hội vươn lên đứng đầu thế giới.

<tbody> </tbody>

Niên vụ

2013/14

2014/15

2015/16

2016/17

2017/18

Diện tích trồng (ha)

653.352

641.200

650.000

645.381

 

Sản lượng (triệu bao)

29,83

27,4

28,93

26,7

28,6

- Cà phê vối

28,65

26,35

27,83

25,6

27,5

- Cà phê chè

1,18

1,05

1,1

1,1

1,1

Xuất khẩu (triệu bao)

27,27

19,79

26,95

25

24

Tiêu dùng nội địa (triệu bao)

2,01

2,22

2,63

2,77

2,88

Dự trữ cuối kỳ (triệu bao)

2,13

6,37

3,8

1,18

1,31

Nguồn: số liệu của Bộ nông nghiệp và PTNT Việt Nam và Bộ nông nghiệp Hoa Kì

Năm 2017, Việt Nam có khoảng gần 100 doanh nghiệp xuất khẩu đang hoạt động, dẫn đầu bởi Intimex, Simexco và Tín Nghĩa. Đức và Mỹ là những nước nhập khẩu cà phê Việt Nam lớn nhất trong 6 tháng đầu năm 2017. Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu duy trì diện tích trồng cà phê 600.000ha đến năm 2020 và sản xuất 1,7 triệu tấn cà phê hàng năm.

Việt Nam có những vùng trồng cà phê nổi tiếng như Pleiku, Ayun Pa, Buôn Hồ, Buôn Ma Thuột, Đắk Mil hay Cư Kuin. Trong đó, nổi bật nhất là Buôn Ma Thuột, kinh đô cà phê của Việt Nam. Với lợi thế là một vùng đất đỏ bazan màu mỡ, có những ưu thế đặc trưng về điều kiện tự nhiên, cao nguyên Buôn Ma Thuột không những là nơi cây cà phê sinh trưởng tốt, mà còn tạo nên hạt cà phê chất lượng cao, hương vị khác biệt so với nhiều vùng đất khác. Chính sự khác biệt đó là yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của cà phê Buôn Ma Thuột và nơi đây đã sớm trở thành trung tâm của ngành cà phê toàn vùng Tây Nguyên nói riêng, Việt Nam nói chung, đặc biệt là đối với cà phê vối. Với bề dày về truyền thống và tích lũy kinh nghiệm hơn 100 năm của người dân trồng cà phê nơi đây, cà phê Buôn Ma Thuột đã hội đủ các yếu tố bền vững và ngày càng khẳng định vị trí vững chắc trong nền sản xuất hàng hoá của tỉnh Đắk Lắk (chiếm đến 86% kim ngạch xuất khẩu từ các sản phẩm nông sản nói chung, đóng góp hơn 60% tổng thu ngân sách hằng năm của tỉnh năm 2018). Tại Đắk Lắk, sản lượng niên vụ 2017 – 2018 ước đạt 459.785 tấn, tăng 11.975 tấn so với niên vụ 2016 – 2017, theo số liệu Cục Thống kê tỉnh. Diện tích cà phê toàn tỉnh là 204.808 ha, tăng 1.071 ha so với niên vụ trước. Về hoạt động chế biến và xuất khẩu, niên vụ 2017 - 2018 Đắk Lắk có 301 cơ sở chế biến cà phê, tăng 41 cơ sở so với niên vụ 2016 - 2017. Xuất khẩu cà phê Đắk Lắk đạt 191.169 tấn, giảm 9.993 tấn. Kim ngạch xuất khẩu đạt 365 triệu USD, giảm 80,23 triệu USD so với niên vụ trước.

Sản phẩm cà phê vối đã trở thành biểu tượng và là niềm tự hào của tỉnh Đắk Lắk nói chung, vùng địa danh Buôn Ma Thuột nói riêng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Cà phê vối Buôn Ma Thuột cũng được quảng bá là chỉ dẫn địa lý cho cà phê vối chất lượng cao của Việt Nam (Buon Ma Thuot’s robusta single estate coffee). Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 6 năm 2017 được tổ chức đúng vào năm thứ 100 kể từ khi những cây cà phê vối đầu tiên cắm rễ trên cao nguyên Đăk Lăk.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Ngân hàng thế giới, 2004. Báo cáo Nghiên cứu Ngành Cà phê. Ban Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tháng 6/2004

2. Tổng quan ngành cà phê Việt Nam-Cà phê Việt-Đứng đầu thế giới. Nguồn: <a href="https://primecoffe.com/nganh-ca-phe/viet-nam">https://primecoffe.com/nganh-ca-phe/viet-nam</a>, 2010

3. Anh Tùng. Cà phê Việt Nam những năm qua. Chuyên mục Thế giới dữ liệu, STINFO Số 3 - 2015

4. Cục xúc tiến Thương mại. Thị trường cà phê Việt Nam năm 2017 qua các con số - Phần 1. Nguồn: <a href="http://www.vietrade.gov.vn/tin-tuc/thi-truong-ca-phe-viet-nam-nam-2017-qua-cac-con-so-phan-1">http://www.vietrade.gov.vn/tin-tuc/thi-truong-ca-phe-viet-nam-nam-2017-qua-cac-con-so-phan-1</a>, 2017

5. Nguyễn Thị Phương Linh, 2017. Phân tích sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành cà phê Việt Nam. Tạp chí nghiên cứu Châu Phi & Trung Đông, số 07/2017

6. Vũ Thắng. Khó khăn nào cho ngành cà phê Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới? Báo Kinh tế và tiên dùng, tháng 10/2017