Tổ chức Công an nhân dân

Từ Bách khoa toàn thư Việt Nam

TỔ CHỨC CÔNG AN NHÂN DÂN

hệ thống các đơn vị trong Công an nhân dân được bố trí tập trung, thống nhất, chuyên sâu, tinh gọn và theo cấp hành chính từ trung ương đến cơ sở nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, các tổ chức Công an nhân dân đầu tiên đã ra đời ở ba miền Bắc, Trung, Nam, hoạt động độc lập, chịu trách nhiệm bảo đảm trật tự, trị an ở từng vùng, miền. Ở miền Bắc có sở Liêm phóng và Ty Cảnh sát, miền Trung có Sở trinh sát, miền Nam có Quốc gia tự vệ cuộc. Sau Sắc lệnh số 23-SL ngày 21.02.1946 thành lập Việt Nam Công an vụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 18.4.1946, Bộ Nội vụ ra quyết định số 121-NĐ về tổ chức Công an vụ, chính thức thành lập tổ chức CAND thống nhất trên tất cả các địa phương trong cả nước theo ba cấp: Nha Công an Trung ương (gồm Văn phòng, Ty Tập trung tài liệu và Ty Thanh tra), Sở Công an kỳ ở ba miền và Ty Công an tỉnh để làm nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân dân, trấn áp kịp thời bọn phản cách mạng và bọn phạm tội khác, giữ gìn an ninh, trật tự.

 Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng, Nhà nước và Chính phủ luôn quan tâm xây dựng, củng cố và kiện toàn tổ chức Công an nhân dân; căn cứ tình hình, nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự và yêu cầu xây dựng lực lượng Công an nhân dân của từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử để tiến hành điều chỉnh, sắp xếp tổ chức Công an nhân dân một cách kịp thời, phù hợp thông qua các chủ trương, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, trong đó tập trung nhất là các quy định trong Luật Công an nhân dân và các Nghị định của Chính phủ, quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Công an và các đơn vị trực thuộc. Từ năm 1975 đến nay, tổ chức Công an nhân dân trải qua 06 lần điều chỉnh mang tính hệ thống, đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở, lần lượt vào các năm 1981 (theo Nghị định số 250/CP ngày 12.6.1981), 1989 (theo Nghị định số 11/HĐ-HĐBT ngày 14.11.1989), 2003 (theo Nghị định số 136/NĐ-CP ngày 14.11.2003), 2009 (theo Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15.9.2009), 2014 (theo Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17.11.2014) và 2018 (theo Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06.8.2018).

Theo Luật Công an nhân dân (2018) và Nghị định số 01/2018/NĐ-CP ngày 06.8.2018 của Chính phủ quy định về Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy Bộ Công an, tổ chức Công an nhân dân được bố trí gồm Cơ quan Bộ Công an và Công an địa phương. Cơ quan Bộ Công an gồm các đơn vị nghiệp vụ, tham mưu, chính trị, hậu cần, thanh tra thuộc cơ quan Bộ và các học viện, trường Công an nhân dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp an ninh, bệnh viện và các tổ chức khác thuộc Bộ Công an được thành lập theo quy định của pháp luật. Công an địa phương gồm Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; Công an xã, phường, thị trấn; công an các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và các đồn, trạm Công an tại các cửa khẩu hoặc ở những khu vực trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự.

Tổ chức Công an nhân dân được bố trí dựa trên kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ và bố trí theo cấp hành chính gắn với tổ chức đảng và chính quyền các cấp, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và mọi mặt của cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương. Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Bộ trưởng Bộ Công an quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của đơn vị trực thuộc Bộ, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, Công an xã, phường, thị trấn và các đơn vị còn lại trong Công an nhân dân.

Là tổ chức lực lực lượng vũ trang làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, tổ chức Công an nhân dân có các tính chất sau:

Tính chính trị (tính giai cấp): Dưới góc độ lý luận, lịch sử ra đời và phát triển của các tổ chức vũ trang trên thế giới luôn có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với giai cấp và Nhà nước sinh ra nó. Tổ chức Công an nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, xây dựng và phát triển, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tổ chức Công an nhân dân được bố trí gắn với tổ chức đảng và chính quyền các cấp. Các đơn vị trong tổ chức Công an nhân dân đều có các đảng bộ, chi bộ cơ sở, đảm nhiệm vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo đơn vị thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của cấp trên; lãnh đạo trực tiếp mọi mặt công tác của đơn vị.

Tính nhân dân: Tổ chức Công an nhân dân được thành lập và hoạt động dựa vào nhân dân, vì nhân dân và đặt dưới sự giám sát trực tiếp của nhân dân. Nhân dân đùm bọc, chở che cho tổ chức Công an nhân dân trong những ngày đầu mới thành lập; tham gia xây dựng tổ chức Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh thông qua hoạt động giám sát của mình. Mọi chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công an nhân dân đều hướng đến mục tiêu cao nhất là bảo vệ quyền lợi chính đáng cho nhân dân, bảo đảm cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Tính vũ trang, chiến đấu: Tổ chức Công an nhân dân là một tổ chức vũ trang làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự, trực tiếp tiến hành các hoạt động đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Tổ chức Công an nhân dân được trang bị các phương tiện, vũ khí cần thiết phục vụ công tác chiến đấu, được tổ chức một cách chặt chẽ theo hướng chính quy, tinh nhuệ, có hệ thống từ trung ương đến cơ sở hoạt động theo nguyên tắc mệnh lệnh, phục tùng. Lực lượng trực tiếp chiến đấu trong tổ chức CAND được tiến hành các biện pháp cần thiết, trong đó có biện pháp vũ trang để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT được giao.

Tính hành chính, pháp lý: Khoản 2, Điều 4 về Nguyên tắc, hoạt động Tổ chức CAND quy định CAND được “tổ chức tập trung, thống nhất, chuyên sâu, tinh gọn và theo cấp hành chính từ trung ương đến cơ sở”. Tổ chức CAND là một bộ phận trong hệ thống cơ quan quản lý hành chính nhà nước, có chức năng quản lý nhà nước về ANTT theo quy định của pháp luật. Hệ thống các đơn vị trong CAND hoạt động theo cơ chế mệnh lệnh, phục tùng, cấp dưới phục tùng mệnh lệnh cấp trên.

Hoạt động quản lý nhà nước về an ninh, trật tự do các đơn vị CAND chủ trì cũng tuân thủ những quy định của quản lý hành chính nhà nước, thể hiện ở những đặc điểm chủ yếu là: phải tuân thủ các thủ tục, trình tự hành chính theo quy định của pháp luật; bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động; tổ chức các đơn vị thực hiện quản lý nhà nước về an ninh, trật tự được bố trí theo lĩnh vực và theo cấp hành chính; thẩm quyền giải quyết, xử lý các vi phạm hành chính; giải quyết khiếu nại được phân cấp thống nhất, đồng bộ với các cơ quan quản lý nhà nước khác.

Tính tinh gọn, hiệu quả: đây là một tính chất ưu việt của tổ chức Công an nhân dân, đặc biệt kể từ khi Bộ Công an triển khai Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tính tinh gọn và hiệu quả của tổ chức Công an nhân dân thể hiện qua việc Bộ Công an chủ trì thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm trong phạm vi cả nước; không chia cắt về địa bàn, lãnh thổ; tinh gọn; số lượng các đầu mối hợp lý theo tinh thần một cơ quan, đơn vị chủ trì và chịu trách nhiệm chính; việc điều chỉnh, bố trí lực lượng, sắp xếp cán bộ, cơ cấu biên chế trong nội bộ Bộ Công an được tiến hành theo hướng tăng cường cho lực lượng trực tiếp chiến đấu, hướng về cơ sở và chính quy hoá lực lượng Công an xã, thị trấn, sử dụng hiệu quả từng biên chế, một người có thể làm nhiều việc.

              

Tài liệu tham khảo:

  1. Bộ Công an, 65 năm Công an nhân dân Việt Nam (1945 - 2010), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2010.
  2. Đại Từ điển tiếngViệt, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000.
  3. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Công an nhân dân, Hà Nội, 2018.
  4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XII, Nxb. Chính trị quốc gia, 2016.