TRẦN QUỐC HOÀN

Từ Bách khoa toàn thư Việt Nam

TRẦN QUỐC HOÀN (1916-1986), tên thật: Nguyễn Trọng Cảnh) Bộ trưởng Công an đầu tiên của Việt Nam và tại chức trong thời gian dài nhất (từ năm 1952 đến năm 1981); là người có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho công tác nghiệp vụ, xây dựng lực lượng và công tác lý luận của lực lượng Công an nhân dân.

TQHoan.jpg

 

Trần Quốc Hoàn sinh ngày 23.01.1916 trong một gia đình nông dân nghèo ở xóm Đình, làng Dương Liễu, tổng Nam Kim (nay là xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), vùng đất giàu truyền thống văn hiến và cách mạng. Ngay khi đang còn là học sinh, ông đã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Hội Phục Việt, tham gia vào các cuộc đấu tranh của học sinh và các tầng lớp nhân dân Nghệ An đòi thực dân Pháp xoá án tử hình cụ Phan Bội Châu (năm 1925), dự lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh (năm 1926) và đấu tranh phản đối thực dân Pháp tẩy chay thầy giáo Hà Huy Tập.

Năm 1930, tham gia vào tổ chức học sinh phản đế của Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông được chi bộ làng Dương Liễu tin tưởng giao nhiệm vụ rải truyền đơn, làm liên lạc và hăng hái tham gia các cuộc mít tinh, biểu tình cùng với hàng ngàn nông dân ở các tổng, kéo đến bao vây, phá huyện đường Nam Đàn, phá ty rượu, phá nhà lao để giải thoát cho tù chính trị.

 Sau thời gian tham gia hoạt động cách mạng ở quê hương, ông quyết định thoát li gia đình đi làm phu ở mỏ chì Boneng (Thà Khẹt - Lào), một mặt để lao động tự kiếm sống, mặt khác có cơ hội  được tiếp xúc với giai cấp công nhân để tự rèn luyện mình. Tại đây, ông được tổ chức Đảng giao nhiệm vụ tuyên truyền, vận động công nhân và nhanh chóng trưởng thành từ một người yêu nước thành một người cộng sản. Tháng 3.1934, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

 Cuối năm 1934, ông bị mật thám Pháp bắt, kết án 8 tháng tù giam và 5 năm biệt xứ. Hết hạn tù, ông bị quản thúc tại Hà Tĩnh. Năm 1936, ông bí mật ra Hà Nội tham gia hoạt động trong phong trào Mặt trận Dân chủ, công tác tại nhiều báo công khai của Đảng ở Hà Nội lúc bấy giờ. Từ năm 1937 đến năm 1939 theo Chỉ thị của Đảng, ông rút vào hoạt động bí mật, tham gia Thường vụ Thành uỷ làm Phó Bí thư rồi Bí thư Thành uỷ Hà Nội. Bị địch truy lùng ráo riết, tháng 5 năm 1940, ông được tổ chức cho rút khỏi Hà Nội, đến nhận công tác tại nhà in báo “Giải phóng”,  trực tiếp viết chữ ngược trên đá để in litô. Tại địa điểm hoạt động mới, ông tiếp tục chỉ đạo công tác in ấn và phát hành tờ báo “Giải phóng” do các ông Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp và Đào Duy Kỳ sáng lập trước đó. Để phù hợp với công tác tuyên truyền của Đảng trong giai đoạn mới, tờ báo “Giải phóng” được Đảng ta đổi tên thành “Cờ Giải phóng”. Công tác ở cơ quan báo chí một thời gian, ông được điều động  sang phụ trách Trạm  giao thông của Xứ uỷ Bắc Kỳ, kiêm Trưởng Ban chỉ đạo phong trào cách mạng của hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang.

Đầu năm 1941, ông lại bị thực dân Pháp bắt lần thứ hai và bị kết án 6 năm tù và 20 năm quản thúc tại nhà tù Hoả Lò (Hà Nội), sau đó bị đày đi nhà tù Sơn La. Tại đây, ông tham gia sinh hoạt trong chi bộ nhà tù và đến năm 1944, được bầu làm Bí thư chi bộ nhà tù. Sau khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 09.3.1945), ông đã  khôn khéo thuyết phục bọn cai ngục trả tự do cho 200 chính trị phạm, an toàn rút về các vùng hoạt động của Đảng, góp phần bổ sung đội ngũ cán bộ cho Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Ra tù, ông được Trung ương cử làm Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ. Tháng 12.1946, được cử làm phái viên Trung ương ở Hà Nội. Năm 1947, làm Bí thư Liên khu uỷ II. Tháng 3.1948, làm Bí thư liên khu uỷ X. Năm 1949, làm Bí thư Đặc khu uỷ Hà Nội. Năm 1951, tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II của đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ngày 19.8.1952, ông được Trung ương Đảng  phân công phụ trách ngành Công an. Ngày 06.9.1952, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Nha Công an Việt Nam. Tháng 02.1953, giữ chức Thứ trưởng Bộ Công an rồi làm Bộ trưởng Bộ Công an.

Từ năm 1954, ông kiêm Bí thư Thành uỷ Hà Nội, trực tiếp tổ chức tốt cuộc tiếp quản thủ đô và chuyển Chính phủ, Trung ương Đảng ta từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Năm 1960, tại Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng và được Trung ương bầu làm Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị. Đến năm 1972, là uỷ viên chính thức Bộ Chính trị. Năm 1976, tại Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương và được Trung ương bầu lại vào Bộ Chính trị.

Từ năm 1961 đến năm 1984, tham gia Quân uỷ Trung ương. Cuối năm 1980, được Trung ương cử vào Ban Bí thư Trung ương Đảng. Năm 1982, tại Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được cử làm Trưởng Ban Dân vận Trung ương.

Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Công an gần 28 năm (1953 - 1980), Trần Quốc Hoàn luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào việc xây dựng lực lượng Công an nhân dân trở thành lực lượng vũ trang trọng yếu tin cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, lực lượng nòng cốt trong đấu tranh chống phản cách mạng, các loại tội phạm khác, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Ông đặc biệt quan tâm đến công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, hình thành và phát triển lý luận Công an nhân dân.

Trần Quốc Hoàn là đại biểu Quốc hội 6 khoá liên tục (từ khoá II đến khoá VII). Do công lao to lớn đối với cách mạng, ông đã được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương, trong đó có Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Đảng và Nhà nước ta. Do tuổi cao, sức yếu, đầu tháng 9 năm 1986, ông đã qua đời ở Hà Nội, hưởng thọ 70 tuổi.

Tài liệu tham khảo:

1. Tổng cục Chính trị Công an nhân dân, Người chiến sĩ cách mạng kiên trung của Đảng, nhà lãnh đạo xuất sắc của Công an Việt Nam  đồng chí Trần Quốc Hoàn, Đề cương tuyên truyền, 2016.

2. Hoi đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2005), Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 4, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội.

3. Báo Công an nhân dân, Tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, Hà Nội, 17.112015.